Mua lại cổ phiếu của công ty đại chúng – Những vấn đề pháp lý chung.
Mua lại cổ phiếu là một trong các hình thức giảm vốn điều lệ của công ty đại chúng. Trong bài viết này, các tác giả đề cập một số vấn đề pháp lý chung của hoạt động mua lại cổ phiếu của công ty đại chúng trên cơ sở các quy định của Luật chứng khoán số 54/2019/QH14, được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 56/2024/QH15 ( trong bài viết này gọi là “Luật chứng khoán 2019”) và Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 03/2022/QH15 và Luật số 76/2025/QH15 ( trong bài viết này gọi là “Luật doanh nghiệp 2020”). Lưu ý rằng, bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của người viết bài và nội dung bài viết không thể hiện quan điểm tư vấn của người viết bài hay của BFSC Law LLC đối với một tình huống pháp lý tương tự phát sinh trong thực tế.
Mua lại cổ phiếu của công ty đại chúng – Những vấn đề pháp lý chung.
1. Cổ phần và cổ phiếu là gì?
1.1. Cổ phần là gì?
Luật doanh nghiệp 2020 và Luật chứng khoán 2019 không định nghĩa thế nào là cổ phần. Tuy nhiên, từ quy định tại Điều 111.1(a) Luật doanh nghiệp 2020, có thể hiểu rằng cổ phần là phần vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành các phần bằng nhau.
1.2. Cổ phiếu là gì?
Điều 121.1 Luật doanh nghiệp 2020 quy định “cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó”. Điều 4.2 Luật chứng khoán 2019 cũng quy định “cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành”.
Hai quy định của Luật doanh nghiệp 2020 và Luật chứng khoán 2019 cùng thống nhất xác định cổ phiếu là một tài liệu chứng nhận quyền sở hữu, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành là công ty cổ phần. Một cổ phiếu có thể chứng nhận quyền của người sở hữu đối với một hoặc nhiều cổ phần của người sở hữu cổ phiếu trong công ty đại chúng.
Luật doanh nghiệp 2020 ngoài việc quy định về cổ phiếu tại Điều 121.1 không sử dụng đến thuật ngữ “mua lại cổ phiếu” trong các quy định về mua lại cổ phần tại Điều 132, Điều 133 và Điều 134.
Tuy nhiên, Điều 13.2 Luật chứng khoán 2019 quy định mệnh giá cổ phiếu chào bán ra công chúng là 10 nghìn đồng, nghĩa là mỗi cổ phiếu, theo cách hiểu của Điều 13.2 Luật chứng khoán 2019 tương đương với quyền sở hữu một cổ phần trong công ty đại chúng. Do đó, thuật ngữ “mua lại cổ phiếu” chủ yếu được sử dụng trong Luật chứng khoán 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành với ý nghĩa mỗi cổ phiếu của công ty đại chúng tương ứng với chứng nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với một cổ phần của công ty đại chúng.
2. Quy định về “mua lại cổ phần” của công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2020.
2.1. Các trường hợp mua lại cổ phần của công ty cổ phần
Luật doanh nghiệp 2020 quy định hai trường hợp công ty cổ phần được mua lại cổ phần gồm: (i) Mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông (Điều 132 Luật doanh nghiệp 2020); và (ii) mua lại cổ phần theo quyết định của công ty (Điều 133 Luật doanh nghiệp 2020). Các cổ phần được công ty mua lại trong hai trường hợp này được gọi là “cổ phần được mua lại”, theo quy định tại Điều 134 Luật doanh nghiệp 2020.
2.2. Giới hạn tỷ lệ “cổ phần được mua lại” của công ty cổ phần
Luật doanh nghiệp 2020 không giới hạn giá trị hay tỷ lệ số cổ phần được mua lại trong trường hợp mua lại cổ phần theo yêu cầu của cổ đông. Tuy nhiên, đối với trường hợp mua lại cổ phần theo quyết định của công ty, Điều 133 Luật doanh nghiệp 2020 hạn chế giá trị cổ phần được mua lại ở mức tối đa là không vượt quá 30% tổng số cổ phần phổ thông đã bán, và toàn bộ cổ phần ưu đãi cổ tức đã bán. Điều 133 Luật doanh nghiệp 2020 không có quy định hạn chế tỷ lệ được mua lại đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết, cổ phần ưu đãi hoàn lại và các cổ phần ưu đãi khác.
Do tính chất của hoạt động “mua lại cổ phần theo yêu cầu của công ty” là một hình thức giảm vốn điều lệ được quy định tại Điều 112.5 của Luật doanh nghiệp 2020 và Điều 112.5 không hạn chế tỷ lệ cổ phần được mua lại hay dẫn chiếu đến quy định về hạn chế tỷ lệ cổ phần được mua lại trong Điều 112.5 đến quy định tại Điều 113 Luật doanh nghiệp 2020. Nên theo quan điểm của người viết bài, giới hạn tỷ lệ cổ phần được mua lại tại Điều 133 Luật doanh nghiệp 2020 chỉ áp dụng đối với trường hợp “mua lại cổ phần” tại Điều 133 Luật doanh nghiệp 2020 mà không bao trùm lên các trường hợp giảm vốn điều lệ khác được quy định tại Điều 112.5 Luật doanh nghiệp 2020.
Một trong những băn khoăn của người viết bài, và cũng đã được đề cập trong báo cáo rà soát của VCCI khi đề xuất sửa đổi toàn diện Luật doanh nghiệp năm 2020, là không rõ tỷ lệ giới hạn 30% tổng số cổ phần đã bán này của Điều 133 Luật doanh nghiệp 2020 được xác định trên số lượng cổ phần tại thời điểm nào? số lượng cổ phần hiện có tại thời điểm thực hiện mua lại cổ phiếu, số lượng cổ phần cao nhất của công ty cổ phần trong năm thực hiện mua lại cổ phiếu hay tổng khối lượng cổ phần đã phát hành trong toàn bộ quá trình hoạt động của công ty cổ phần?
2.3. Điều kiện thanh toán “cổ phần được mua lại” của công ty cổ phần
Điều 134 Luật doanh nghiệp 2020 quy định công ty cổ phần chỉ được thanh toán cổ phần được mua lại nếu sau khi thanh toán tiền cho cổ phần được mua lại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Trường hợp công ty thanh toán tiền mua cổ phần dẫn đến sau khi thanh toán cổ phần được mua lại, công ty không đảm bảo khả năng thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác, có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý của người quản lý doanh nghiệp theo quy định tại Điều 165 và Điều 166 Luật doanh nghiệp 2020.
2.4. Đăng ký giảm vốn điều lệ sau khi hoàn tất “mua lại cổ phần” của công ty cổ phần.
Theo quy định tại Điều 134 Luật doanh nghiệp 2020, cổ phần được mua lại sẽ được gọi là cổ phần chưa bán theo Điều 112.4 Luật doanh nghiệp 2020 và công ty phải thực hiện thủ tục điều chỉnh giảm vốn điều lệ tương ứng, trừ khi Luật chứng khoán có quy định khác (xem mục 3.4 bài viết).
Cần lưu ý rằng, “cổ phần được mua lại” phải là “cổ phần đã bán” theo Điều 112.2, nghĩa là cổ phần được mua lại phải là cổ phần được quyền chào bán và đã được cổ đông sở hữu cổ phần thanh toán đầy đủ tiền mua cổ phần cho công ty, không phụ thuộc vào số lần chuyển nhượng cổ phần giữa các cổ đông. Trường hợp công ty mua lại cổ phần không phải là cổ phần được quyền chào bán và đã được cổ đông thanh toán đủ cho công ty sẽ đặt ra trách nhiệm của người quản lý công ty và cổ đông liên quan đến việc bồi hoàn giá trị thanh toán và bồi thường thiệt hại.
3. Các quy định về “mua lại cổ phiếu” của công ty đại chúng theo Luật chứng khoán 2019.
3.1. Các trường hợp mua lại cổ phiếu của công ty đại chúng
Điều 36 Luật chứng khoán quy định công ty đại chúng được quyền mua lại cổ phiếu của chính mình trong các trường hợp: (i) Có quyết định của Đại hội đồng cổ đông về việc mua lại cổ phiếu và đáp ứng các điều kiện được mua lại cổ phiếu theo Điều 36.1; (ii) mua lại cổ phiếu theo yêu cầu của cổ đông theo quy định tại Luật doanh nghiệp; (iii) mua lại cổ phiếu của người lao động theo quy chế phát hành cổ phiếu cho người lao động của công ty (“ESOP”), mua lại cổ phiếu lẻ theo phương án phát hành cổ phiếu để trả cổ tức, phương án phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu; (iv) công ty chứng khoán mua lại cổ phiếu của chính mình để sửa lỗi giao dịch hoặc mua lại cổ phiếu lô lẻ.
3.2. Giới hạn tỷ lệ cổ phiếu được mua lại của công ty đại chúng
Luật chứng khoán 2019 không quy định về giới hạn tỷ lệ cổ phiếu được mua lại. Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân của người viết bài, các quy định về tỷ lệ giới hạn cổ phần được mua lại của công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2020 sẽ được áp dụng tương tự như đối với công ty đại chúng (xin xem tại mục 2.2 bài viết).
3.3. Điều kiện thanh toán “cổ phiếu được mua lại” của công ty đại chúng.
Điều 36.1(b) Luật chứng khoán 2019 quy định công ty đại chúng phải đảm bảo có đủ nguồn vốn để mua lại cổ phiếu từ các nguồn: thặng dư vốn cổ phần, quỹ đầu tư phát triển, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu được sử dụng để bổ sung vốn điều lệ theo quy định của pháp luật.
Điều 36.3(a) Luật chứng khoán 2019 không cho phép công ty đại chúng mua lại cổ phiếu của chính mình khi đang có nợ phải trả quá hạn thể hiện trên báo cáo tài chính năm gần nhất được kiểm toán hoặc báo cáo 06 tháng gần nhất được kiểm toán hoặc soát xét trong trường hợp việc mua lại được thực hiện sau 06 tháng kể từ thời điểm kết thúc năm tài chính. Quy định này không áp dụng đối với trường hợp cổ phiếu của công ty đại chúng đang là đối tượng chào mua công khai.
Theo quan điểm của người viết bài, công ty đại chúng cũng phải đáp ứng là đảm bảo khả năng thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác theo Điều 134 Luật doanh nghiệp.
3.4. Đăng ký giảm vốn điều lệ sau khi hoàn tất việc mua lại cổ phiếu của công ty đại chúng.
Điều 36.5 và Điều 36.6 Luật chứng khoán 2019 thì công ty đại chúng phải thực hiện việc đăng ký giảm vốn điều lệ tương ứng với tổng giá trị cổ phiếu được mua lại trong trường hợp (i) mua lại cổ phiếu của chính mình theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông tại Điều 36.1 và mua lại cổ phiếu theo yêu cầu của cổ đông tại Điều 36.2(a) Luật chứng khoán. Công ty đại chúng không phải thực hiện đăng ký giảm vốn điều lệ trong trường hợp mua lại cổ phiếu của người lao động theo quy chế phát hành cổ phiếu cho người lao động của công ty.
Trong bài viết tiếp theo, tác giả sẽ cung cấp thông tin chi tiết về quy định mua lại cổ phiếu của công ty đại chúng. Để tìm hiểu về quy định cập nhật đối với việc mua lại cổ phiếu của công ty đại chúng, xin xem tại đây.
Quý khách hàng có nhu cầu tư vấn hoạt động mua lại cổ phần của công ty cổ phần chưa đại chúng, mua lại cổ phiếu của công ty đại chúng, vui lòng liên hệ với Ban thư ký BFSC Law LLC tại Hà Nội:
VP 1034 tầng 10, Pacific Place, 83B Lý Thường Kiệt, phường Cửa Nam, thành phố Hà Nội.
Điện thoại: (024) 7108 2688 | Email: [email protected]
Mọi trao đổi liên quan đến bài viết, vui lòng liên hệ với
| Luật sư Phan Quang Chung | Email: [email protected] | Trợ lý luật sư Trần Hồng Hạnh | Email: [email protected] |

