CẬP NHẬT CÁC QUY ĐỊNH TẠI NGHỊ QUYẾT 16/2026/NQ-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH THÁO GỠ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC ĐỐI VỚI DỰ ÁN BT CHUYỂN TIẾP
Ngày 07 tháng 04 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 16/2026/NQ-CP quy định cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với dự án đầu tư theo hình thức Xây dựng – Chuyển giao được thực hiện trước thời điểm Luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư có hiệu lực thi hành, còn được gọi là các dự án BT chuyển tiếp (“Nghị quyết số 16”). Nghị quyết số 16 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 07 tháng 04 năm 2026 cho đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2027.
Trong bài viết này, luật sư Phan Quang Chung và trợ lý luật sư Trần Hồng Hạnh sẽ cập nhật một số quy định được đề cập tại Nghị quyết số 16.
(1) Nguyên tắc và điều kiện áp dụng Nghị quyết số 16
Nguyên tắc quan trọng nhất là Nghị quyết số 16 chỉ xem xét, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án BT chuyển tiếp mà nguyên nhân do lỗi của cơ quan quản lý nhà nước. Đối với các dự án BT chuyển tiếp được xác định có nội dung hợp đồng dự án chưa phù hợp với quy định pháp luật tại thời điểm ký kết hợp đồng mà nguyên nhân do lỗi của nhà đầu tư thì cơ quan có thẩm quyền sẽ (i) chấm dứt hợp đồng dự án trước thời hạn với nhà đầu tư; và (ii) không bố trí vốn ngân sách nhà nước để thanh toán chấm dứt hợp đồng trước thời hạn cho nhà đầu tư.
Ngoài ra, Nghị quyết số 16 cũng quy định các nguyên tắc khác, bao gồm (i) bảo đảm quá trình thực hiện Nghị quyết đúng quy định của pháp luật; (ii) không hợp pháp hóa cho sai phạm, không tạo ra sai phạm mới trong quá trình thực hiện Nghị quyết; (iii) bảo đảm lợi ích chung, tổng thể, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các chủ thể có liên quan; (iv) tách bạch việc xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân vi phạm với việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để sớm đưa công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng và nguồn lực đất đai vào khai thác, sử dụng hiệu quả, tránh lãng phí.
Nghị quyết số 16 cũng đặt ra các điều kiện áp dụng đối với dự án BT chuyển tiếp là: (i) Chỉ áp dụng đối với các dự án BT chuyển tiếp đã được báo cáo, tổng hợp trên Hệ thống thông tin quốc gia về cơ sở dữ liệu các dự án đầu tư có khó khăn, vướng mắc, tồn đọng kéo dài (“Hệ thống 751”), trừ các dự án BT chuyển tiếp có tên trong các Phụ lục kèm theo Nghị quyết; và (ii) Đã có kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc đã có văn bản kết luận của cấp có thẩm quyền về việc không phải thanh tra, kiểm tra quá trình thực hiện dự án và hợp đồng dự án.
Nghị quyết số 16 không hạn chế thời điểm dự án BT chuyển tiếp được tổng hợp, báo cáo trên Hệ thống 751, cũng không hạn chế thời điểm ban hành kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc thời điểm ban hành văn bản kết luận về việc không phải thanh tra, kiểm tra quá trình thực hiện dự án và hợp đồng dự án. Nghị quyết số 16 trao quyền cho các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định việc thực hiện thanh tra (hoặc ban hành văn bản kết luận về việc không phải thanh tra, kiểm tra) và chịu trách nhiệm toàn diện với quyết định của mình.
Với các nguyên tắc và điều kiện áp dụng này, nhà đầu tư dự án BT chuyển tiếp muốn áp dụng Nghị quyết để giải quyết vướng mắc, khó khăn cho dự án của mình ngoài việc cập nhật thông tin dự án lên hệ thống 751 thì còn cần phải kiểm tra, rà soát hợp đồng dự án (và kết luận thanh tra, kiểm tra – nếu có) để xác định vướng mắc, khó khăn đối với dự án BT chuyển tiếp của mình có nguyên nhân là từ cơ quan nhà nước hay có nguyên nhân nào khác để xác định dự án BT chuyển tiếp của mình có thuộc đối tượng được áp dụng Nghị quyết số 16 hay không. Nhà đầu tư cũng cần có biện pháp thích hợp trong trường hợp nhận thấy (i) kết luận thanh tra, kiểm tra không phù hợp với thực tiễn hoặc (ii) dự án không thuộc danh sách dự án cần phải thanh tra, kiểm tra nhưng chưa có văn bản của cấp có thẩm quyền kết luận về việc có cần phải thanh tra, kiểm tra dự án hay không.
(2) Các phương án tháo gỡ, xử lý vướng mắc, khó khăn của dự án BT chuyển tiếp
(2.1) Đối với dự án BT chuyển tiếp có nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết
Đối với dự án BT chuyển tiếp có nội dung hợp đồng, phụ lục hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết hợp đồng, Nghị quyết số 16 quy định cơ quan có thẩm quyền tiếp tục thực hiện dự án và thanh toán cho nhà đầu tư theo hợp đồng đã ký kết theo quy định tại Nghị quyết đối với hai phương án (i) thanh toán bằng ngân sách nhà nước; (ii) thanh toán bằng quỹ đất hoặc tài sản công hoặc cơ sở nhà đất tại vị trí cũ).
Đối với trường hợp hợp đồng dự án quy định hình thức thanh toán bằng ngân sách nhà nước, cơ quan có thẩm quyền bố trí vốn và thanh toán cho nhà đầu tư đối với phần giá trị dự án BT đã thực hiện quyết toán vốn đầu tư dự án BT hoàn thành. Tổng số tiền thanh toán cho dự án BT không được vượt tổng mức đầu tư và lãi vay sau giai đoạn xây dựng, lợi nhuận hợp lý của nhà đầu tư đã được cấp có thẩm quyết phê duyệt. Lãi suất vốn vay và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư được xác định theo hợp đồng dự án. Các bên được sửa đổi hợp đồng dự án để điều chỉnh lãi suất vốn vay áp dụng sau thời điểm ký kết phụ lục sửa đổi hợp đồng theo quy định tại Nghị định số 312/2025/NĐ-CP về cơ chế quản lý tài chính dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
Đối với trường hợp hợp đồng dự án quy định hình thức thanh toán bằng quỹ đất hoặc bằng tài sản công theo quy định tại Nghị định số 69/2019/NĐ-CP, Nghị quyết số 16 quy định có thể tiếp tục thanh toán bằng quỹ đất, tài sản công hoặc thỏa thuận về việc chuyển đổi sang hình thức thanh toán bằng tiền từ ngân sách nhà nước, tùy trường hợp cụ thể.
(2.2) Đối với dự án BT chuyển tiếp có nội dung hợp đồng dự án chưa phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết hợp đồng dự án
Dự án BT chuyển tiếp có nội dung hợp đồng dự án chưa phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết hợp đồng dự án mà nguyên nhân là do lỗi của nhà đầu tư thì sẽ bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hợp đồng và cơ quan có thẩm quyền sẽ không bố trí vốn ngân sách nhà nước để thanh toán chấm dứt hợp đồng trước thời hạn cho nhà đầu tư.
Dự án BT chuyển tiếp có nội dung hợp đồng dự án chưa phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết hợp đồng dự án mà nguyên nhân là do lỗi của cơ quan có thẩm quyền và đáp ứng các điều kiện quy định gồm (i) Dự án đang được triển khai có hiệu quả hoặc đã hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cho Bộ và địa phương; (ii) Hợp đồng có nội dung chưa phù hợp nhưng không dẫn đến thất thoát, lãng phí, gây thiệt hại cho nhà nước; quá trình thực hiện dự án không phát sinh tiêu cực, tham nhũng; (iii) Có sự thống nhất giữa cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng để tiếp tục thực hiện dự án thì được tiếp tục thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng dự án (bằng vốn ngân sách nhà nước hoặc bằng quỹ đất, tài sản công), sau khi cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư ký kết phụ lục sửa đổi hợp đồng dự án.
(2.3) Xử lý vướng mắc đối với dự án BT chuyển tiếp có giá trị quỹ đất thanh toán dự kiến tại hợp đồng dự án khác với giá trị quỹ đất thực tế tại thời điểm thanh toán
Cần lưu ý rằng, theo Điều 12 Nghị quyết số 16, thời điểm xác định giá trị của quỹ đất thanh toán theo hợp đồng dự án (thời điểm xác định tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của quỹ đất thanh toán) là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất. Quy định này phù hợp với các quy định của Nghị định 257/2025/NĐ-CP quy định về đầu tư theo phương thức đối tác công tư, loại hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao và Nghị định 312/2025/NĐ-CP về cơ chế quản lý tài chính dự án PPP và cơ chế thanh toán hợp đồng BT.
Nghị quyết số 16 quy định các phương án xử lý chính đối với trường hợp này, bao gồm:
(i) thanh toán bằng toàn bộ giá trị quỹ đất và nhà đầu tư nhận một khoản bù trừ chênh lệch bằng tiền;
(ii) giao toàn bộ quỹ đất và nhà đầu tư phải trả phần chênh lệch giá trị;
(iii) giao một phần quỹ đất, phần còn lại được bù trừ chênh lệch giá trị bằng tiền;
(iv) không giao đất, cơ quan có thẩm quyền thỏa thuận về việc nhà đầu tư nhận thanh toán bằng tiền.
(2.4) Xử lý vướng mắc dự án BT chuyển tiếp đã hoàn thành lựa chọn nhà đầu tư nhưng chưa ký kết hợp đồng hoặc đã ký kết hợp đồng nhưng chưa triển khai đầu tư xây dựng công trình dự án BT.
Nghị quyết số 16 quy định Cơ quan có thẩm quyền thỏa thuận với nhà đầu tư trên cơ sở quy định pháp luật và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và nhà đầu tư để giải quyết theo một trong các tình huống sau:
Đối với trường hợp đã hoàn thành lựa chọn nhà đầu tư nhưng chưa ký kết hợp đồng: Tiếp tục ký kết hợp đồng dự án nếu đáp ứng quy định tại Điều 7.2 Nghị quyết hoặc dừng thực hiện dự án;
Đối với trường hợp đã ký kết hợp đồng nhưng chưa triển khai đầu tư xây dựng công trình BT: Tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký kết hoặc chấm dứt hợp đồng. Nghị quyết số 16 không quy định điều kiện để tiếp tục thực hiện hoặc chấm dứt hợp đồng đã ký kết.
(2.5) Xử lý khoản tiền ứng trước của nhà đầu tư để thanh toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với quỹ đất thanh toán dự án BT
Nghị quyết số 16 quy định khoản tiền ứng trước của nhà đầu tư để thanh toán chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với quỹ đất thanh toán dự án BT sẽ được khấu trừ vào giá trị quỹ đất thanh toán tại thời điểm thanh toán, phần khoản tiền ứng trước vượt quá giá trị quỹ đất thanh toán sẽ được tính vào chi phí đầu tư của dự án đối ứng.
Nhà đầu tư có thể được hoàn lại khoản tiền ứng trước trong hai trường hợp, bao gồm:
(i) Nhà đầu tư đã ứng trước kinh phí để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với phần diện tích vượt khỏi phần diện tích quỹ đất giao cho nhà đầu tư;
(ii) Dự án phải chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hoặc dự án chưa hoàn thành ký kết hợp đồng.
(2.6) Lãi vay do chậm giao đất, cho thuê đất để thanh toán
Theo Điều 12.2 Nghị quyết số 16, trường hợp nhà đầu tư đã hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao công trình BT trước ngày Nghị quyết số 16 có hiệu lực thi hành mà Nhà nước chậm giao đất, cho thuê đất để thanh toán thì Nhà đầu tư được hưởng thâm một khoản tiền tương ứng với mức lãi vay theo quy định tại hợp đồng dự án đối với phần giá trị hoàn thành của hạng mục công trình hoặc công trình. Trường hợp hợp đồng dự án không quy định mức lãi vay, các bên sẽ áp dụng quy định tại Điều 12.2 Nghị quyết số 16 để xác định lãi vay.
Lưu ý: Bài viết này thể hiện quan điểm cá nhân của các tác giả cho mục đích cập nhật thông tin pháp luật để tham khảo, không phải là quan điểm tư vấn của các tác giả hay BFSC đối với bất kỳ một dự án BT chuyển tiếp thực tế nào. Do đó, BFSC khuyến cáo người đọc chỉ nên sử dụng nội dung bài viết cho mục đích tham khảo, BFSC không chịu trách nhiệm về việc người đọc sử dụng nội dung bài viết như một ý kiến tư vấn pháp luật cho một tình huống thực tế của chính mình hay của bên thứ ba nào khác.
Mọi ý kiến trao đổi, đóng góp về bài viết, vui long liên hệ với nhóm tác giả
| Phan Quang Chung | Sáng lập viên – Luật sư điều hành | Email: [email protected] | Trần Hồng Hạnh | Trợ lý luật sư | Email: [email protected] |

