CHẤP THUẬN HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN VỚI NGƯỜI CÓ LIÊN QUAN – NHỮNG VẤN ĐỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CẦN QUAN TÂM
Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14, được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 03/2022/QH15 và Luật số 76/2025/QH15 (“Luật doanh nghiệp 2020”) quy định tại Điều 167 về thủ tục chấp thuận hợp đồng, giao dịch giữa công ty công ty cổ phần với người có liên quan. Mặc dù chấp thuận hợp đồng, giao dịch giữa công ty với người có liên quan là một thủ tục trong quản trị nội bộ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, một hợp đồng giữa công ty với người có liên quan được ký không đúng với quy định này có thể dẫn đến bị Tòa án tuyên vô hiệu và đặt ra trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của những người có thẩm quyền ký kết, chấp thuận hợp đồng, giao dịch. Điều luật này là một ví dụ điển hình về khả năng một hợp đồng, giao dịch có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu do không đáp ứng các điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực.
Chấp thuận hợp đồng, giao dịch giữa công ty cổ phần và người có liên quan không phải là quy định mới của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, quy định này đã được ghi nhận trong Luật doanh nghiệp năm 1999 và được tiếp tục phát triển trong Luật doanh nghiệp năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2014 và Luật doanh nghiệp 2020.
Trong bài này, tác giả phân tích một số nội dung được quy định tại Điều 167 Luật doanh nghiệp 2020 về chấp thuận hợp đồng, giao dịch giữa công ty cổ phần và người có liên quan. Thông qua các phân tích trong bài viết, đặt ra những vấn đề về quản trị công ty mà Hội đồng quản trị có thể cần phải quan tâm trong phạm vi trách nhiệm của mình.
(1) Những hợp đồng, giao dịch giữa công ty với người có liên quan phải được chấp thuận.
Theo Điều 167.1 Luật doanh nghiệp 2020, những hợp đồng, giao dịch giữa công ty với những người liên quan sau đây phải được chấp thuận bởi Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị:
a) Cổ đông, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty và người có liên quan của họ;
b) Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người có liên quan của họ;
c) Doanh nghiệp mà thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty phải kê khai theo quy định tại khoản 2 Điều 164 của Luật này.
(2) Xác định “người có liên quan” với công ty theo quy định tại Điều 167.1 Luật doanh nghiệp 2020
Điều 167.1 Luật doanh nghiệp 2020 cho thấy có hai nhóm “người có liên quan” trong các hợp đồng, giao dịch với công ty, gồm nhóm người có liên quan trực tiếp (là những người có thể xác định được ngay thông qua nội dung mô tả tại Điều 167.1 và Điều 164.2 Luật doanh nghiệp 2020) và nhóm người có liên quan gián tiếp (là những người được ghi nhận với cụm từ “người có liên quan của họ” và đặt ra trách nhiệm cho người ký kết hợp đồng phải tiếp tục xác định thông qua việc đánh giá mối quan hệ và các quy định có liên quan). Cần để ý rằng khái niệm “người có liên quan” không có nghĩa là chỉ bao gồm cá nhân có liên quan mà bao gồm cả cá nhân có liên quan và doanh nghiệp có liên quan.
(2,1) Nhóm người có liên quan trực tiếp với công ty trong các hợp đồng, giao dịch
Theo Điều 167.1 Luật doanh nghiệp 2020, những người có liên quan trực tiếp với công ty trong các hợp đồng, giao dịch được xác định gồm:
(i) cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty (Điều 167.1(a)).
Theo quan điểm của người viết bài, Điều 167.1(a) không phân biệt cổ đông là tổ chức hay cổ đông là cá nhân, miễn là cổ đông đó sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông). Cũng cần để ý rằng, tỷ lệ sở hữu cổ phần theo Điều 167.1(a) được xác định trên tổng số cổ phần phổ thông của công ty mà không bao gồm cổ phần ưu đãi các loại. Cách hành văn của Điều 167.1(a) có thể dẫn đến khả năng được hiểu thành nhóm người liên quan trực tiếp tại Điều 167.1(a) gồm mọi cổ đông (không phân biệt cổ đông là cá nhân hay pháp nhân, không phân biệt loại cổ phần sở hữu và tỷ lệ sở hữu cổ phần trong công ty; và người đại diện cho cổ đông là tổ chức sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty. Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết bài và xét trên quy định tại Điều 4.46 Luật chứng khoán năm 2019, thì tinh thần của Điều 167.1(a) không quy định hợp đồng, giao dịch của công ty với mọi cổ đông của công ty đều phải tuân thủ quy định về chấp thuận hợp đồng, giao dịch vì nếu hiểu theo cách này, số lượng hợp đồng, giao dịch mà công ty có thể cần chấp thuận có thể sẽ là rất lớn, nhất là trong bối cảnh số lượng đông đảo cổ đông của các công ty cổ phần đại chúng.
(ii) Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc (Điều 167.1(b)).
Cần để ý rằng, mọi thành viên Hội đồng quản trị, không phân biệt là thành viên độc lập hay thành viên khác của Hội đồng quản trị đều sẽ chịu sự điều chỉnh của quy định này.
(iii) Doanh nghiệp mà thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty phải kê khai theo Điều 164.2 Luật doanh nghiệp 2020, gồm có:
+ Doanh nghiệp mà thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty làm chủ hoặc sở hữu phần vốn góp hoặc cổ phần;
+ Doanh nghiệp mà những người có liên quan của thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty làm chủ, cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng phần vốn góp hoặc cổ phần trên 10% vốn điều lệ.
(Điều 167.1(c) và Điều 164.2 Luật doanh nghiệp 2020).
Cũng cần để ý rằng, theo Điều 4.24 Luật doanh nghiệp 2020, người quản lý khác của công ty là cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty, ngoài thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
(2.2) Nhóm người có liên quan gián tiếp với công ty trong các hợp đồng giao dịch.
Điều 167.1(a) và Điều 167.1(b) gọi những người có liên quan gián tiếp này bằng cụm từ “người có liên quan của họ”, bao gồm:
(i) Người có liên quan của cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty, người có liên quan của người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty;
(ii) Người có liên quan của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
Điều 167.1(c) và Điều 164.2(b) quy định người có liên quan gián tiếp là doanh nghiệp mà người có liên quan của thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác của công ty làm chủ, cùng sở hữu hoặc sở hữu riêng phần vốn góp hoặc cổ phần trên 10% vốn điều lệ.
Các quy định tại Điều 167.1 Luật doanh nghiệp 2020 đặt ra một thách thức không nhỏ cho các công ty cổ phần, nhất là các công ty cổ phần đại chúng, công ty cổ phần do Nhà nước sở hữu vốn điều lệ trong việc xác định “người có liên quan gián tiếp” trong các hợp đồng, giao dịch để đảm bảo tuân thủ quy định về việc chấp thuận, thông qua hợp đồng, giao dịch. Công ty cần căn cứ các quy định về “người có quan hệ gia đình” theo Điều 4.22 Luật doanh nghiệp 2020, quy định về “người có liên quan” theo Điều 4.23 Luật doanh nghiệp 2020, quy định về “người có liên quan” theo Điều 4.46 Luật chứng khoán năm 2019 (trong bối cảnh công ty cổ phần là công ty đại chúng) và Điều lệ công ty để xác định “người có liên quan gián tiếp” trong các hợp đồng, giao dịch cụ thể. Công ty cũng cần căn cứ cơ cấu cổ đông và cơ cấu quản trị công ty trong từng thời kỳ để lập danh sách “người có liên quan trực tiếp” và “người có liên quan gián tiếp” nhằm đảm bảo việc tuân thủ Điều 167 một cách chính xác và nhanh chóng.
(3) Thẩm quyền chấp thuận hợp đồng, giao dịch với người có liên quan của công ty.
Điều 167(2) và Điều 167(3) Luật doanh nghiệp 2020 phân cấp thẩm quyền chấp thuận hợp đồng, giao dịch với người có liên quan tại Điều 167.1 cho Hội đồng quản trị và Đại hội đồng cổ đông. Theo các quy định này, thẩm quyền chấp thuận hợp đồng, giao dịch với người có liên quan tại Điều 167 Luật doanh nghiệp 2020 được xác định như sau:
(3.1) Thẩm quyền chấp thuận hợp đồng, giao dịch của Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị chấp thuận các hợp đồng, giao dịch theo quy định tại Điều 167.1 và có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính gần nhất hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty”
Cần lưu ý rằng, quy định tại Điều 167.2 Luật doanh nghiệp 2020 xác định những hợp đồng, giao dịch với người có liên quan quy định tại Điều 167.1 và thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị:
+ Hợp đồng, giao dịch có giá trị nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính gần nhất;
+ Hợp đồng, giao dịch có giá trị nhỏ hơn (nhỏ hơn tỷ lệ 35%) theo quy định tại Điều lệ công ty. Trường hợp này được hiểu là Điều lệ công ty có quy định tỷ lệ nhỏ hơn tỷ lệ 35% được quy định tại Điều 167.2 Luật doanh nghiệp. Trong trường hợp Điều lệ công ty quy định tỷ lệ nhỏ hơn 35% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, quy định này sẽ dẫn đến việc thu hẹp thẩm quyền chấp thuận hợp đồng, giao dịch của Hội đồng quản trị và tăng thẩm quyền chấp thuận hợp đồng, giao dịch cho Đại hội đồng cổ đông.
+ Hợp đồng, giao dịch có giá trị nhỏ hơn 35% tổng của một giá trị khác nhỏ hơn tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính gần nhất. Trường hợp này được hiểu là Điều lệ công ty có thể quy định một giá trị so sánh khác mà không phải là tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp, với điều kiện là giá trị so sánh này phải nhỏ hơn tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính, chẳng hạn như tổng giá trị tài sản ròng của doanh nghiệp.
(3.2) Thẩm quyền chấp thuận hợp đồng, giao dịch của Đại hội đồng cổ đông
Điều 167.3 Luật doanh nghiệp 2020, Đại hội đồng cổ đông có thẩm quyền chấp thuận các hợp đồng, giao dịch sau đây:
(i) Hợp đồng, giao dịch khác ngoài hợp đồng, giao dịch thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị (Điều 167.3(a) Luật doanh nghiệp 2020). Đây là các hợp đồng, giao dịch thuộc đối tượng quy định tại Điều 167.1 và không nằm trong thẩm quyền của Hội đồng quản trị.
(ii) Hợp đồng, giao dịch vay, cho vay, bán tài sản có giá trị lớn hơn 10% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính gần nhất giữa công ty và cổ đông sở hữu từ 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên hoặc người có liên quan của cổ đông đó (Điều 167.3(b) Luật doanh nghiệp 2020).
Cần để ý rằng các hợp đồng, giao dịch thuộc thẩm quyền chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông theo Điều 167.3(a) là các hợp đồng, giao dịch đáp ứng đủ hai điều kiện gồm:
+ Thuộc đối tượng phải thực hiện thủ tục chấp thuận hợp đồng, giao dịch theo Điều 167.1; và
+ Không thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị.
Các hợp đồng, giao dịch thuộc thẩm quyền chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông theo Điều 167.3(b) là các hợp đồng giao dịch đáp ứng đủ ba điều kiện gồm:
+ Hợp đồng, giao dịch về vay, cho vay, bán tài sản;
+ Giá trị hợp đồng, giao dịch lớn hơn 10% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty. Điều luật quy định giá trị hợp đồng, giao dịch cần phải chấp thuận sẽ được so sánh với tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp mà không phải là giá trị nào khác trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp (như tài sản ròng).
+ Bên giao dịch còn lại là cổ đông sở hữu từ 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên hoặc người có liên quan của cổ đông đó. Để tránh nhầm lẫn, cần lưu ý rằng điều luật quy định tính tỷ lệ số lượng cổ phần có quyền biểu quyết (bao gồm số lượng cổ phần phổ thông và số lượng cổ phần ưu đãi biểu quyết) mà không phải là tính số lượng phiếu biểu quyết của tổng số các loại cổ phần có quyền biểu quyết.
(4) Về thủ tục chấp thuận hợp đồng, giao dịch của công ty với người có liên quan
(4.1) Thủ tục chấp thuận hợp đồng, giao dịch của công ty với người có liên quan của Hội đồng quản trị.
Theo Điều 167.2, thủ tục chấp thuận hợp đồng, giao dịch của Hội đồng quản trị được quy định như sau:
(i) Người đại diện công ty ký hợp đồng, giao dịch phải thông báo cho thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên về các đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó và gửi kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc nội dung chủ yếu của giao dịch.
(ii) Hội đồng quản trị quyết định việc chấp thuận hợp đồng, giao dịch trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định một thời hạn khác. Thành viên Hội đồng quản trị có lợi ích liên quan đến các bên trong hợp đồng, giao dịch không có quyền biểu quyết.
Quá trình thực hiện thủ tục chấp thuận hợp đồng, giao dịch bởi Hội đồng quản trị, cần đảm bảo trình tự, thủ tục triệu tập họp, biểu quyết và thông qua quyết định của Hội đồng quản trị được thực hiện đúng và cần đảm bảo xác định được những thành viên nào của Hội đồng quản trị “có lợi ích liên quan đến các bên trong hợp đồng” để loại trừ biểu quyết của thành viên này. Việc không thực hiện đúng thủ tục chấp thuận hợp đồng, giao dịch có nguy cơ dẫn đến quyền yêu cầu đình chỉ, hủy bỏ nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị hoặc dẫn đến yêu cầu tuyên bố hợp đồng, giao dịch vô hiệu và dẫn đến trách nhiệm bồi thường của người ký kết hợp đồng, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
(4.2) Thủ tục chấp thuận hợp đồng, giao dịch của công ty với người có liên quan của Đại hội đồng cổ đông.
Theo Điều 167.(4) Luật doanh nghiệp 2020, thủ tục chấp thuận hợp đồng, giao dịch của Đại hội đồng cổ đông được quy định như sau:
(i) Người đại diện công ty ký hợp đồng, giao dịch phải thông báo cho Hội đồng quản trị và Kiểm soát viên về đối tượng có liên quan đối với hợp đồng, giao dịch đó và gửi kèm theo dự thảo hợp đồng hoặc thông báo nội dung chủ yếu của giao dịch.
(ii) Hội đồng quản trị trình dự thảo hợp đồng, giao dịch hoặc giải trình về nội dung chủ yếu của hợp đồng, giao dịch tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông hoặc lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản.
Cổ đông có lợi ích liên quan đến các bên trong hợp đồng, giao dịch không có quyền biểu quyết.
Hợp đồng, giao dịch được chấp thuận theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 148 của Luật này, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác.
Trong quá trình thực hiện thủ tục chấp thuận hợp đồng, giao dịch thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị có trách nhiệm kiểm tra, rà soát danh sách cổ đông để loại bỏ quyền biểu quyết của các cổ đông có lợi ích liên quan đến các bên trong hợp đồng. Đồng thời, đảm bảo nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua phù hợp với trình tự, thủ tục, hình thức và tỷ lệ phiếu biểu quyết hợp lệ theo các quy định của Luật doanh nghiệp 2020 và Điều lệ công ty.
(5) Khả năng hợp đồng, giao dịch bị tuyên vô hiệu do không tuân thủ quy định về chấp thuận hợp đồng, giao dịch với người có liên quan của công ty theo Điều 167 Luật doanh nghiệp 2020.
Quy định tại Điều 167.5 ám chỉ rằng hợp đồng, giao dịch được ký kết không đúng quy định tại Điều 167 Luật doanh nghiệp 2020 có khả năng bị Tòa án tuyên vô hiệu và bị xử lý theo quy định pháp luật đối với hợp đồng vô hiệu.
Theo quan điểm của người viết bài, thủ tục chấp thuận hợp đồng, giao dịch tại Điều 167 Luật doanh nghiệp 2020 là một thủ tục nội bộ của doanh nghiệp và phản ánh thẩm quyền của các cơ quan quản lý doanh nghiệp đối với các hợp đồng, giao dịch cụ thể. Việc không tuân thủ hoặc tuân thủ không đúng quy định tại Điều 167 Luật doanh nghiệp 2020 đối với các hợp đồng, giao dịch này sẽ dẫn đến chủ thể ký kết hợp đồng, giao dịch không đủ thẩm quyền ký kết hợp đồng, giao dịch. Do đó, nếu một trong các bên trong hợp đồng, giao dịch yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả hợp đồng vô hiệu.
Vấn đề ai là người có thẩm quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng, giao dịch được ký kết không đúng quy định tại Điều 167 Luật doanh nghiệp 2020 và thời điểm thích hợp để thực hiện quyền yêu cầu này sẽ được người viết bài đề cập trong một bài viết khác.
(6) Trách nhiệm pháp lý trong trường hợp không tuân thủ quy định về chấp thuận hợp đồng, giao dịch với người có liên quan của công ty theo Điều 167 Luật doanh nghiệp 2020.
Cũng theo Điều 167.5, khi hợp đồng, giao dịch bị vô hiệu theo quyết định của Tòa án và xử lý theo quy định của pháp luật khi được ký kết không đúng với quy định tại Điều 167 Luật doanh nghiệp sẽ đặt ra trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt và hoàn trả của những người có liên quan đến việc ký kết, chấp thuận hợp đồng, giao dịch không đúng.
Theo Điều 167.5, người ký kết hợp đồng, giao dịch, cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc hoặc Tổng giám đốc có liên quan phải liên đới thực hiện nghĩa vụ bồi thường và hoàn trả.
Nghĩa vụ bồi thường và hoàn trả mà trong trường hợp này bao gồm thiệt hại phát sinh và khoản lợi thu được từ việc thực hiện hợp đồng, giao dịch đó. Cần lưu ý rằng, ngoài các thiệt hại về thu nhập mà công ty bị mất, bị giảm sút, các hợp đồng, giao dịch thuộc đối tượng phải chấp thuận bởi Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đông theo Điều 167 Luật doanh nghiệp 2020 có thể bị Cơ quan thuế xác định là giao dịch liên kết và bị ấn định lại nghĩa vụ thuế và phát sinh khoản phạt, tiền chậm nộp.
Vấn đề về thẩm quyền yêu cầu, thủ tục và phạm vi yêu cầu bồi thường, hoàn trả trong trường hợp bị Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng do ký kết không đúng quy định tại Điều 167 Luật doanh nghiệp 2020 cũng sẽ được tác giả đề cập trong một bài viết khác.
(7) Nghĩa vụ công khai thông tin giao dịch.
Điều 167.6 Luật doanh nghiệp 2020 quy định công ty cổ phần phải công khai thông tin hợp đồng, giao dịch có liên quan theo các quy định pháp luật có liên quan.
Vấn đề công khai thông tin giao dịch, hợp đồng giữa công ty với người có liên quan cũng sẽ được người viết bài đề cập trong một bài viết khác.
Quy định về chấp thuận hợp đồng, giao dịch của công ty với những người có liên quan tại Điều 167 Luật doanh nghiệp 2020 được thiết kế nhằm đảm bảo rằng các hợp đồng, giao dịch giữa công ty và những người có liên quan là những giao dịch độc lập, phản ánh đúng bản chất, đảm bảo phân bổ lợi nhuận và rủi ro một cách công bằng như mọi hợp đồng, giao dịch được ký kết giữa công ty cổ phần với các đối tác không có mối liên quan khác. Việc tuân thủ đầy đủ quy định này là một phần nghĩa vụ của những người quản lý công ty với công ty và các cổ đông, giúp đảm bảo hoạt động quản trị, điều hành và trách nhiệm giải trình của những người quản lý công ty trên nguyên tắc trung thành với lợi ích và vì lợi ích của công ty và mọi cổ đông, không phân biệt tỷ lệ sở hữu. Tuân thủ đầy đủ quy định này cũng giúp loại trừ trách nhiệm pháp lý của người quản lý công ty trong quá trình quản trị, điều hành doanh nghiệp.
Các quy định về chấp thuận hợp đồng, giao dịch giữa công ty cổ phần với người có liên quan cho thấy sự xuất hiện của các nghĩa vụ và trách nhiệm của Hội đồng quản trị trong hầu hết các vấn đề có liên quan, từ việc việc lập danh sách người có liên quan, chấp thuận hoặc chuẩn bị và trình Đại hội đồng cổ đông phương án chấp thuận hợp đồng, giao dịch; xử lý hậu quả của hợp đồng được ký kết không đúng quy định. Người viết bài hi vọng những phân tích trong bài viết sẽ cung cấp các gợi ý về trách nhiệm hoàn thiện các quy định của Điều lệ công ty, Quy chế quản trị nội bộ của Hội đồng quản trị trong các vấn đề có liên quan.
Lưu ý rằng, các nội dung được đề cập trong bài viết thể hiện quan điểm riêng của người viết bài tại thời điểm viết bài. Nội dung thể hiện trong bài viết chỉ mang ý nghĩa tham khảo và không phải là quan điểm tư vấn của tác giả hay của Công ty luật TNHH BFSC đối với một tình huống tương tự sẽ diễn ra trong thực tiễn.
Quý khách hàng cần tư vấn chuyên sâu về quản trị pháp lý doanh nghiệp, bao gồm các vấn đề liên quan đến quy định chấp thuận hợp đồng, giao dịch giữa công ty cổ phần và người có liên quan, xin vui lòng liên hệ với Văn phòng Công ty luật TNHH BFSC tại Hà Nội.
Mọi ý kiến trao đổi về bài viết, vui lòng liên hệ với tác giả bài viết:
Luật sư Phan Quang Chung | Email: [email protected] | Điện thoại: (024) 7108 2688 (máy lẻ: 102).

