Khung pháp lý đối với yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ theo Luật phục hồi, phá sản 2025
Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 (“Luật Phục hồi, phá sản 2025”) thiết lập một khuôn khổ mới cho việc xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, hợp tác xã, trong đó chủ nợ được trao một số quyền chủ động đáng kể trong việc khởi động và tham gia thủ tục phá sản.
Đối với chủ nợ, thủ tục phá sản không chỉ là phương thức cuối cùng để xử lý một khoản nợ khó thu. Việc chủ động yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản, tham gia xác lập danh sách chủ nợ, kiểm soát thông tin về tài sản và công nợ, tham gia Hội nghị chủ nợ và giám sát quá trình xử lý tài sản có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bảo vệ và thu hồi khoản nợ.
Trong bài viết này, luật sư Phan Quang Chung – luật sư sáng lập và điều hành Công ty luật BFSC sẽ phân tích khung pháp lý đối với yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ theo Luật phục hồi, phá sản 2025.
1. Quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ trong quá trình tham gia thủ tục phục hồi
Theo quy định của Luật phục hồi, phá sản 2025, quyền yêu cầu mở thủ tục phục hồi không dành cho chủ nợ mà là quyền chủ động của doanh nghiệp, hợp tác xã khi doanh nghiệp, hợp tác xã có cơ sở xác định doanh nghiệp, hợp tác xã có nguy cơ mất khả năng thanh toán.
Tuy nhiên, sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi và đã nhận được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã, các chủ nợ (không phân biệt chủ nợ có bảo đảm hay chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần) sẽ được triệu tập để tham gia Hội nghị chủ nợ và chủ nợ có thể thông qua lá phiếu biểu quyết tại Hội nghị chủ nợ để ra nghị quyết đề nghị Tòa án áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã nếu có đủ cơ sở xác định doanh nghiệp, hợp tác xã đã ở trong tình trạng mất khả năng thanh toán.
Cần lưu ý rằng, Luật phục hồi, phá sản 2025 quy định Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ được thông qua khi có số chủ nợ đại diện cho từ 65% tổng số nợ của chủ nợ tham gia biểu quyết tán thành và có hiệu lực áp dụng đối với toàn bộ chủ nợ. Do đó, để thực hiện quyền yêu cầu Tòa án áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã trong giai đoạn Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu phục hồi của doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ nợ cần trực tiếp hoặc ủy quyền cho người đại diện tham dự, biểu quyết tại Hội nghị chủ nợ hoặc gửi ý kiến bằng văn bản cho Thẩm phán trước ngày tổ chức Hội nghị chủ nợ để thực hiện quyền.
2. Quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.
Điều 5.2 Luật phục hồi, phá sản 2025 quy định, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định là mất khả năng thanh toán, Điều 38 Luật phục hồi, phá sản 2025 quy định chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ không có bảo đảm một phần được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Cần lưu ý rằng, Luật phục hồi, phá sản 2025 không quy định giá trị tối thiểu đối với khoản nợ bị quá hạn thanh toán để chủ nợ được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, một chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã nếu doanh nghiệp, hợp tác xã quá hạn thanh toán khoản nợ không có bảo đảm, khoản nợ có bảo đảm một phần từ 06 tháng trở lên, không phụ thuộc giá trị khoản nợ bị quá hạn.
Tuy nhiên, quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã của chủ nợ gắn với nghĩa vụ cung cấp thông tin chính xác, trung thực và không nhằm mục đích gây thiệt hại đối với doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục tuyên bố phá sản. Một khoản nợ còn đang phát sinh tranh chấp giữa hai bên về giá trị cần phải thanh toán, biện pháp bảo đảm, thời hạn thanh toán hoặc các vấn đề khác trên cơ sở các hợp đồng, thỏa thuận đã ký giữa hai bên sẽ không mặc nhiên được coi là khoản nợ có đủ căn cứ, bị quá hạn nếu các điều kiện, điều khoản của các hợp đồng, thỏa thuận không cho phép xác định giá trị khoản nợ phải thanh toán, ngày thanh toán để phát sinh quyền yêu cầu mở thủ tục tuyên bố phá sản của bên có quyền đối với bên còn lại. Do đó, trước khi tiến hành thủ tục nộp đơn, chủ nợ cần xác định rõ khoản nợ đó đã thực sự có căn cứ chưa, đã bị coi là quá hạn hay chưa, đã quá hạn từ đủ 06 tháng trở lên hay chưa, có phải là khoản nợ không có bảo đảm, không có bảo đảm một phần hay không để xác định chính xác quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, tránh việc bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 109/2026/NĐ-CP.
3. Những vấn đề chủ nợ cần chứng minh khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.
Điều 39 Luật Phục hồi, phá sản 2025 yêu cầu người nộp đơn phải gửi đến Tòa án có thẩm quyền các tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp, cùng với danh sách chủ nợ, người mắc nợ nếu có.
Trên thực tế, hồ sơ của chủ nợ nên được xây dựng theo một chuỗi chứng cứ tương đối rõ ràng:
Khoản nợ có căn cứ → khoản nợ đã đến hạn → doanh nghiệp không thanh toán → đã quá thời hạn 06 tháng → chủ nợ thuộc nhóm có quyền nộp đơn.
Các tài liệu có thể bao gồm:
- Hợp đồng và phụ lục hợp đồng;
- Biên bản nghiệm thu, giao nhận hoặc xác nhận hoàn thành nghĩa vụ;
- Hóa đơn và chứng từ thanh toán;
- Biên bản đối chiếu/xác nhận công nợ;
- Thông báo yêu cầu thanh toán;
- Văn bản gia hạn hoặc cam kết trả nợ;
- Thư từ, email trao đổi về việc không thanh toán;
- Tài liệu liên quan đến tài sản bảo đảm, nếu có.
Đối với những khoản nợ có giá trị lớn hoặc có tranh chấp tiềm ẩn, việc chuẩn bị hồ sơ chứng minh ngay từ giai đoạn trước khi nộp đơn có thể giúp giảm đáng kể rủi ro về thủ tục.
4. Việc nộp đơn không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản
Đây là điểm cần phân biệt rõ khi đánh giá chiến lược của chủ nợ. Trên thực tế, khi một khoản nợ bị quá hạn thanh toán và việc đòi nợ thông qua trao đổi, đàm phán không mang lại kết quả tích cực, chủ nợ thường mong muốn áp dụng biện pháp cứng rắn để thu hồi sớm khoản nợ và không ít trường hợp, các quy định về quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ đã được xét đến. Tuy nhiên, cần phải hiểu rõ rằng việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là quyền của chủ nợ, nhưng việc mở thủ tục phá sản hay không lại phụ thuộc vào đánh giá chứng cứ của Thẩm phán.
Sau khi nhận đơn, Tòa án sẽ tiến hành các bước xử lý, bao gồm phân công Thẩm phán, xem xét đơn, yêu cầu sửa đổi, bổ sung hoặc thực hiện các thủ tục cần thiết theo quy định.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản, trong thời hạn 30 ngày, Thẩm phán phải ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Như vậy, chủ nợ có quyền khởi động quá trình xem xét phá sản, nhưng quyết định có mở thủ tục phá sản hay không vẫn thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Điều này cũng có nghĩa rằng việc nộp đơn cần được xem như một quyết định pháp lý và chiến lược về thu hồi nợ, chứ không đơn thuần là một biện pháp gây sức ép đối với doanh nghiệp, hợp tác xã.
5. Nghĩa vụ gửi giấy đòi nợ kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh cho khoản nợ
Mặc dù tài liệu chứng minh khoản nợ quá hạn đã được chủ nợ nộp cho Tòa án cùng với yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng sau khi Tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản, chủ nợ phải tiếp tục thực hiện một nghĩa vụ quan trọng: gửi giấy đòi nợ kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh khoản nợ cho Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản.
Nếu hết thời hạn này mà chủ nợ không gửi giấy đòi nợ thì về nguyên tắc mất quyền tham gia thủ tục phá sản. Luật có cơ chế ngoại lệ đối với trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Đây là một trong những điểm mà chủ nợ cần đặc biệt lưu ý về mặt quản trị thời hạn.
Việc đã nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản không thay thế nghĩa vụ gửi giấy đòi nợ sau khi thủ tục được mở.
Đối với chủ nợ là tổ chức, cần thiết lập ngay một đầu mối theo dõi vụ việc và các mốc thời gian của Tòa án để tránh việc khoản nợ bị bỏ sót do quy trình nội bộ.
6. Quyền kiểm tra và phản hồi đối với danh sách chủ nợ
Sau khi nhận giấy đòi nợ, Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm lập danh sách chủ nợ, người mắc nợ và xác minh các khoản nợ.
Danh sách phải thể hiện các thông tin cơ bản như tên, địa chỉ, số nợ, tình trạng bảo đảm, tình trạng đến hạn hoặc chưa đến hạn của khoản nợ và các thông tin cần thiết khác. Danh sách phải được công khai tối thiểu 07 ngày trước ngày triệu tập Hội nghị chủ nợ.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án công khai danh sách, người tham gia thủ tục phá sản và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đề nghị Thẩm phán xem xét lại danh sách.
Đối với chủ nợ, đây là thời điểm cần kiểm tra:
- Khoản nợ của mình có được ghi nhận hay không;
- Số tiền nợ có chính xác không;
- Khoản nợ có được phân loại đúng là có bảo đảm, bảo đảm một phần hoặc không có bảo đảm hay không;
- Thông tin về các khoản nợ khác có ảnh hưởng đến quyền lợi của mình hay không.
Việc không kiểm tra danh sách có thể dẫn đến những bất lợi về sau trong quá trình tham gia thủ tục.
7. Quyền tham gia và biểu quyết tại Hội nghị chủ nợ
Hội nghị chủ nợ là một trong những cơ chế trung tâm để các chủ nợ thực hiện quyền của mình trong thủ tục phá sản.
Chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ và có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác tham gia.
Đáng chú ý, chủ nợ không trực tiếp tham dự nhưng gửi ý kiến bằng văn bản cho Thẩm phán trước ngày tổ chức Hội nghị được coi là tham gia và biểu quyết tại Hội nghị.
Theo Luật phục hồi, phá sản 2025, nghị quyết của Hội nghị chủ nợ được thông qua khi có số chủ nợ đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành và nghị quyết có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả chủ nợ.
Hội nghị chủ nợ có thể đưa ra nghị quyết về các vấn đề quan trọng như:
- Đề nghị đình chỉ thủ tục phá sản;
- Thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh;
- Đề nghị Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;
- Chuyển nhượng đồng bộ tài sản hoặc một phần/toàn bộ hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã.
BFSC’s view: đối với chủ nợ có khoản nợ lớn, việc tham gia Hội nghị chủ nợ nên được xem là một phần của chiến lược thu hồi nợ, thay vì chỉ là một thủ tục hành chính.
8. Quyền tiếp cận thông tin và giám sát quá trình giải quyết vụ việc
Trong các vụ việc phá sản, thông tin về tài sản, công nợ và các giao dịch của doanh nghiệp thường có ý nghĩa quyết định đối với khả năng thu hồi nợ.
Luật phục hồi, phá sản 2025 ghi nhận cơ chế để Ban đại diện chủ nợ thực hiện việc giám sát, trong đó có quyền yêu cầu Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản kiểm tra tình hình tài chính, đề nghị sao chụp tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc trong phạm vi pháp luật cho phép và thực hiện các quyền, nghĩa vụ khác theo quyết định của Thẩm phán hoặc Hội nghị chủ nợ.
Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý hoặc lưu giữ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc có trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu hợp lệ trong thời hạn luật định, trừ các trường hợp pháp luật quy định khác.
Đối với những vụ việc có dấu hiệu chuyển dịch tài sản, giao dịch bất thường hoặc tranh chấp về phạm vi tài sản của doanh nghiệp, quyền tiếp cận thông tin này đặc biệt quan trọng.
9. Quyền đề nghị xem xét lại nghị quyết Hội nghị chủ nợ
Quyền của chủ nợ không kết thúc khi Hội nghị chủ nợ biểu quyết.
Nếu không đồng ý với nghị quyết của Hội nghị chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ tham gia Hội nghị có thể gửi đơn đề nghị Chánh án Tòa án xem xét lại nghị quyết trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được nghị quyết.
Cơ chế này cho phép chủ nợ tiếp tục bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi cho rằng nghị quyết của Hội nghị chủ nợ chưa phù hợp với quy định của pháp luật hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi của mình.
10. Quyền của chủ nợ trong quá trình phân chia tài sản
Khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, tài sản được phân chia theo thứ tự ưu tiên được Luật quy định.
Sau chi phí phá sản và các khoản nợ được ưu tiên thanh toán đối với người lao động, khoản nợ phát sinh nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh và nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, khoản nợ không có bảo đảm và phần khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ sẽ được thanh toán theo thứ tự.
Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ cùng thứ tự ưu tiên, các chủ thể trong cùng thứ tự được thanh toán theo tỷ lệ tương ứng với số nợ.
Do đó, đối với chủ nợ, việc bảo đảm khoản nợ được ghi nhận chính xác và phân loại đúng ngay từ đầu có ý nghĩa quan trọng đối với quyền được xem xét thanh toán khi tài sản được xử lý.
11. Một số vấn đề thực tiễn mà các chủ nợ cần quan tâm
Từ góc độ thực tiễn, người viết bài cho rằng chủ nợ nên cân nhắc thủ tục phá sản trên cơ sở chiến lược thu hồi nợ tổng thể, thay vì chỉ tập trung vào việc có nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hay không.
11.1. Đánh giá khoản nợ trước khi nộp đơn
Trước hết, chủ nợ cần xác định rõ:
- khoản nợ có tồn tại và có căn cứ hay không;
- khoản nợ đã đến hạn chưa;
- đã quá 06 tháng kể từ ngày đến hạn hay chưa;
- khoản nợ có tranh chấp hay không;
- chủ nợ thuộc nhóm chủ thể có quyền nộp đơn hay không.
11.2. Đánh giá tài sản và khả năng thu hồi
Một quyết định nộp đơn hợp lý không chỉ dựa trên số tiền doanh nghiệp, hợp tác xã đang nợ mà còn cần xem xét:
- tài sản hiện hữu của doanh nghiệp, hợp tác xã;
- tài sản bảo đảm;
- nghĩa vụ ưu tiên;
- các chủ nợ khác;
- giao dịch có khả năng bị xem xét;
- khả năng thực tế để thu hồi khoản nợ;
- Ảnh hưởng của việc nộp đơn đối với khả năng thu hồi nợ.
Nói cách khác, có quyền nộp đơn không đồng nghĩa với việc chắc chắn thu hồi được nợ.
11.3. Theo dõi vụ việc sau khi nộp đơn
Sau khi nộp đơn, chủ nợ cần theo dõi một cách sát sao:
- Thông báo của Tòa án;
- Quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản;
- Thời hạn 15 ngày gửi giấy đòi nợ và tài liệu chứng minh khoản nợ;
- Danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ;
- Hội nghị chủ nợ;
- Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ;
- Quá trình kiểm kê và xử lý tài sản;
- Các quyết định khác có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ.
11.4. Chuẩn bị phương án tham gia Hội nghị chủ nợ
Đối với khoản nợ lớn, chủ nợ nên xác định trước quan điểm về:
- Khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh;
- Tiếp tục yêu cầu mở thủ tục phá sản hay đề nghị đình chỉ thủ tục;
- Phương án xử lý tài sản;
- Đề nghị tuyên bố phá sản;
- Các phương án chuyển nhượng tài sản hoặc hoạt động kinh doanh.
Việc này giúp chủ nợ chuyển từ trạng thái “phản ứng với thủ tục” sang “chủ động quản lý vị thế của mình trong thủ tục”.
Kết luận:
Luật Phục hồi, phá sản 2025 trao cho chủ nợ một vai trò chủ động hơn trong quá trình giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Đối với chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần, quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản có thể là một công cụ quan trọng khi doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau thời hạn luật định. Tuy nhiên, hiệu quả của công cụ này phụ thuộc không chỉ vào việc đáp ứng điều kiện nộp đơn mà còn vào khả năng của chủ nợ trong việc chứng minh khoản nợ, tuân thủ thời hạn tố tụng và chủ động tham gia các giai đoạn tiếp theo của thủ tục.
Từ góc độ thực tiễn, chủ nợ nên xem thủ tục phá sản là một quá trình thu hồi nợ có tính chiến lược, trong đó mỗi quyết định từ thời điểm nộp đơn, việc kê khai khoản nợ, tham gia Hội nghị chủ nợ cho đến việc theo dõi xử lý tài sản đều có thể ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng.
Đặc biệt, việc bỏ qua các thời hạn như 15 ngày để gửi giấy đòi nợ sau khi Tòa án mở thủ tục phá sản có thể dẫn đến mất quyền tham gia thủ tục.
Vì vậy, đối với các khoản công nợ có giá trị lớn hoặc trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã có dấu hiệu mất khả năng thanh toán, chủ nợ nên tiến hành đánh giá pháp lý và tài sản từ sớm, đồng thời xây dựng phương án tham gia thủ tục phù hợp với mục tiêu thu hồi nợ.
Tuyên bố miễn trừ: Nội dung bài viết nhằm cung cấp thông tin pháp luật và chỉ nhằm mục đích tham khảo, không phải là ý kiến tư vấn của người viết bài hay của Công ty luật BFSC đối với các tình huống tương tự phát sinh trên thực tế. Do đó, người viết bài và Công ty luật BFSC khuyến cáo người đọc không sử dụng thông tin trong bài viết như một ý kiến tư vấn để giải quyết một tình huống tương tự. Mọi tình huống thực tế, cần được thẩm định, đánh giá và tư vấn bởi các luật sư có kinh nghiệm một cách cẩn trọng trước khi hành động.
Quý khách hàng có nhu cầu tư vấn về thủ tục phục hồi, phá sản, vui lòng liên hệ với Văn phòng Công ty luật BFSC tại Hà Nội.
Mọi trao đổi, đóng góp về bài viết, vui lòng liên hệ với tác giả bài viết – luật sư Phan Quang Chung.

