Pháp lý hoạt động cho thuê tài chính: Những vấn đề cần lưu ý từ Thông tư số 31/2026/TT-NHNN.
Ngày 30/06/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 31/2026/TT-NHNN quy định về hoạt động cho thuê tài chính của công ty tài chính tổng hợp, công ty cho thuê tài chính, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/08/2026 (“Thông tư 31”). Thông tư 31 thay thế Thông tư số 26/2024/TT-NHNN ngày 28/06/2024 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho thuê tài chính của công ty tài chính tổng hợp, công ty cho thuê tài chính (“Thông tư 26”).
Trong bài viết này, BFSC Law LLC tóm tắt một số điểm mới của Thông tư 31 so với Thông tư 26, đồng thời phân tích một số vấn đề pháp lý cần lưu ý trong hoạt động cho thuê tài chính. Bài viết cũng đưa ra một số khuyến nghị đối với các bên tham gia giao dịch cho thuê tài chính, đặc biệt là bên thuê tài chính.
1. Một số điểm mới của Thông tư 31 so với Thông tư 26
1.1. Thay đổi quy định về tài sản cho thuê tài chính
Thông tư 31 bổ sung quyền tài sản, bao gồm quyền khai thác, tài sản trí tuệ, dữ liệu và các quyền tài sản khác, cũng như tàu bay chở người và tàu biển vận tải biển nội địa vào danh mục tài sản cho thuê tài chính. Trước đây, Thông tư 26 quy định tài sản cho thuê tài chính chỉ bao gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phương tiện vận tải, trừ tàu biển và tàu bay chở người.
Thông tư 31 đồng thời bổ sung điều kiện tài sản cho thuê tài chính không thuộc danh mục tài sản bị cấm sở hữu, bên cạnh điều kiện không thuộc danh mục hàng hóa bị cấm mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định tại Thông tư 26.
Tương tự Thông tư 26, Thông tư 31 không tiếp tục quy định về hình thức “cho thuê tài chính vận hành”. Do đó, phạm vi tài sản có thể được sử dụng trong hoạt động cho thuê tài chính sẽ không bao gồm bất động sản, trừ trường hợp bất động sản đã được ký kết theo các hợp đồng cho thuê tài chính vận hành theo quy định tại Thông tư số 30/2015/TT-NHNN trước đây.
Thông tư 31 cũng nâng giá trị khoản thuê tài chính có giá trị nhỏ từ dưới 100.000.000 đồng thành dưới 400.000.000 đồng.
1.2. Thay đổi cách xác định chi phí mua và đưa tài sản vào hoạt động cho thuê tài chính
Thông tư 31 thay đổi cách xác định chi phí đưa tài sản cho thuê tài chính vào hoạt động cho thuê tài chính khi tính toán khoản nợ gốc trong khoản tiền thuê tài chính. Theo đó, chi phí được xác định trên cơ sở “chi phí hợp lý, hợp lệ theo quy định của pháp luật liên quan”, thay cho khái niệm “chi phí hợp pháp” được sử dụng tại Thông tư 26.
1.3. Thay đổi cách xác định thời điểm bắt đầu nhận nợ thuê tài chính
Thông tư 31 quy định thời điểm bắt đầu nhận nợ thuê tài chính có thể là ngày bên cho thuê tài chính thanh toán khoản tiền mua tài sản đầu tiên cho bên cung ứng tài sản hoặc ngày khác do các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính, nhưng không muộn hơn ngày quyền sử dụng tài sản cho thuê tài chính được chuyển giao cho bên thuê tài chính.
Quy định mới tạo điều kiện để bên thuê tài chính và bên cho thuê tài chính linh hoạt hơn trong việc thỏa thuận thời điểm bắt đầu nhận nợ, đặc biệt đối với giao dịch mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính, thay vì phải lựa chọn một trong hai thời điểm, tùy thời điểm nào đến trước, như quy định tại Thông tư 26.
1.4. Thay đổi quy định về cho thuê tài chính bằng phương thức điện tử
Thông tư 31 có một số thay đổi đáng chú ý đối với hoạt động cho thuê tài chính bằng phương thức điện tử:
(i) Loại bỏ mức trần giá trị tài sản cho thuê tài chính bằng phương thức điện tử là 500.000.000 đồng và không đặt ra mức trần hoặc mức sàn đối với giá trị tài sản cho thuê tài chính được thực hiện bằng phương thức điện tử.
(ii) Bổ sung một chương riêng quy định về điều kiện đối với cơ sở dữ liệu, khả năng phòng ngừa rủi ro của bên cho thuê tài chính, cũng như hồ sơ, trình tự và thủ tục thực hiện cho thuê tài chính bằng phương thức điện tử.
Các quy định mới về cho thuê tài chính bằng phương thức điện tử tạo điều kiện mở rộng phương thức cung cấp dịch vụ, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với bên cho thuê tài chính về quản trị dữ liệu, kiểm soát và phòng ngừa rủi ro.
1.5. Thay đổi mức dư nợ tín dụng phải cung cấp thông tin về người có liên quan của bên thuê tài chính
Thông tư 31 tăng tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng của bên cho thuê tài chính đối với bên thuê tài chính làm căn cứ phát sinh nghĩa vụ cung cấp thông tin về người có liên quan của bên thuê tài chính từ 0,5% lên 1%.
Quy định này theo đó tạo thêm dư địa nhất định cho hoạt động cấp tín dụng của bên cho thuê tài chính đối với bên thuê tài chính và người có liên quan của bên thuê tài chính.
1.6. Thay đổi yêu cầu đối với quy định nội bộ của bên cho thuê tài chính
Thông tư 31 bổ sung trách nhiệm của bên cho thuê tài chính trong việc xây dựng quy định nội bộ đối với các hình thức cho thuê tài chính, mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính và cho thuê tài chính bằng phương thức điện tử.
Theo đó, bên cho thuê tài chính phải phân định chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của cá nhân, bộ phận có liên quan đến việc xét duyệt cho thuê, giám sát hoạt động cho thuê, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, thu hồi tài sản cho thuê tài chính và các hoạt động liên quan nhằm phân loại rủi ro, đánh giá khách hàng và bảo toàn vốn.
1.7. Thay đổi điều kiện cho thuê tài chính bằng ngoại tệ
Thông tư 31 bổ sung điều kiện bên cho thuê tài chính, bao gồm cả trường hợp mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính, phải được cấp phép kinh doanh ngoại hối và cung ứng dịch vụ ngoại hối.
Đồng thời, Thông tư 31 loại bỏ điều kiện yêu cầu bên thuê tài chính phải có dư nợ bằng ngoại tệ tại ngân hàng để nhập khẩu tài sản trong trường hợp mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính.
1.8. Bổ sung quy định về hợp đồng cho thuê tài chính
Thông tư 31 bổ sung quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn, qua đó làm rõ nguyên tắc hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng không hủy ngang, trừ các trường hợp quy định tại Điều 20.1(a), (b), (c) và hợp đồng cho thuê tài chính.
Quy định này giúp hạn chế cách hiểu không thống nhất về quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính.
2. Các hình thức cho thuê tài chính
Thông tư 31 tiếp tục duy trì hai hình thức gồm: (i) cho thuê tài chính; và (ii) mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính.
Cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê tài chính và bên thuê tài chính. Bên cho thuê tài chính mua tài sản cho thuê tài chính theo yêu cầu của bên thuê tài chính và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản trong suốt thời hạn cho thuê. Bên thuê tài chính sử dụng tài sản và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính là việc bên cho thuê tài chính là công ty tài chính tổng hợp hoặc công ty cho thuê tài chính mua tài sản thuộc sở hữu của bên thuê và cho chính bên thuê thuê lại tài sản đó theo hình thức cho thuê tài chính để tiếp tục sử dụng phục vụ hoạt động của mình. Trong giao dịch mua và cho thuê lại, bên thuê đồng thời là bên cung ứng tài sản cho thuê tài chính.
Nếu hoạt động cho thuê tài chính thông thường cung cấp cho bên thuê tài chính tài sản để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, thì mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính trong một số trường hợp có thể là lựa chọn phù hợp để cơ cấu lại nguồn vốn và tạo dòng tiền cho doanh nghiệp trong quá trình tái cấu trúc tài chính.
Tuy nhiên, việc Thông tư 26 và hiện nay là Thông tư 31 không tiếp tục duy trì quy định về cho thuê tài chính vận hành tại Thông tư số 30/2015/TT-NHNN đã gián tiếp loại bỏ khả năng tiếp cận bất động sản thông qua hoạt động cho thuê tài chính đối với bên thuê tài chính. Đối với các hợp đồng cho thuê tài chính vận hành được ký kết theo Thông tư 30/2015/TT-NHNN, đặc biệt đối với tài sản có liên quan đến bất động sản hoặc các tài sản không còn thuộc phạm vi tài sản cho thuê tài chính theo quy định hiện hành, các bên cần lưu ý khi hợp đồng hết thời hạn và có nhu cầu gia hạn hoặc tiếp tục thực hiện giao dịch.
3. Bên cho thuê tài chính
Theo Thông tư 31, bên cho thuê tài chính là công ty tài chính tổng hợp hoặc công ty cho thuê tài chính được phép thực hiện hoạt động cho thuê tài chính theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, công ty tài chính bao thanh toán và công ty tài chính tiêu dùng không được cấp phép thực hiện hoạt động cho thuê tài chính. Ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng không được cấp phép thực hiện hoạt động cho thuê tài chính.
Trong trường hợp cho thuê tài chính hợp vốn, bên cho thuê tài chính có thể gồm nhiều công ty tài chính hoặc công ty cho thuê tài chính trong nước. Trường hợp bên thuê tài chính là người không cư trú, công ty tài chính nước ngoài có thể tham gia cấp tín dụng hợp vốn nhưng phải tuân thủ các quy định pháp luật về cấp tín dụng hợp vốn.
Ngoài việc đáp ứng các điều kiện để được phép hoạt động cho thuê tài chính theo Luật Các tổ chức tín dụng, bên cho thuê tài chính phải được phép thực hiện hoạt động ngoại hối trong trường hợp giao dịch cho thuê tài chính, mua và cho thuê lại có sử dụng ngoại tệ.
Bên cho thuê tài chính đồng thời phải tuân thủ các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng về các trường hợp không được cấp tín dụng, hạn chế cấp tín dụng và các quy định về quản lý ngoại hối trong trường hợp đồng tiền cho thuê tài chính là ngoại tệ hoặc có sự tham gia của công ty tài chính nước ngoài trong hoạt động cấp tín dụng hợp vốn.
Hoạt động cho thuê tài chính cũng phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 120.4 Luật Các tổ chức tín dụng, bao gồm một trong các điều kiện sau:
a) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của các bên;
b) Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản tại thời điểm mua lại;
c) Thời hạn cho thuê một tài sản ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản đó;
d) Tổng số tiền thuê một tài sản theo hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
4. Bên thuê tài chính
Theo Thông tư 31, bên thuê tài chính, bao gồm cả bên bán và thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính, là tổ chức hoặc cá nhân hoạt động tại Việt Nam thực hiện thuê tài chính để sử dụng tài sản thuê theo mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính.
Định nghĩa về bên thuê tài chính tại Thông tư 31 tương tự Thông tư 26 và đã loại bỏ yêu cầu “sử dụng trực tiếp tài sản thuê” so với định nghĩa tại Thông tư số 30/2015/TT-NHNN.
Tuy nhiên, việc loại bỏ yêu cầu này không hoàn toàn đồng nghĩa với việc bên thuê tài chính không có nghĩa vụ trực tiếp sử dụng tài sản thuê. Đối với trường hợp cho thuê tài chính có sử dụng ngoại tệ, bên thuê tài chính phải sử dụng tài sản thuê để phục vụ sản xuất, kinh doanh và có đủ ngoại tệ từ nguồn thu sản xuất, kinh doanh để trả nợ tiền thuê tài chính. Mặc dù nội dung điều luật không sử dụng cụm từ “sử dụng trực tiếp” nhưng hợp đồng cho thuê tài chính cần làm rõ giới hạn của việc sử dụng tài sản thuê tài chính trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên thuê tài chính để tránh trường hợp bị coi là vi phạm hợp đồng và dẫn đến chấm dứt hợp đồng trước thời hạn.
Bên thuê tài chính phải đáp ứng các điều kiện để được bên cho thuê tài chính xem xét, quyết định cho thuê tài chính theo Điều 5 Thông tư 31, bao gồm:
a) Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật;
b) Thuê tài sản cho thuê tài chính để sử dụng vào mục đích hợp pháp;
c) Có phương án sử dụng tài sản cho thuê tài chính khả thi;
d) Có khả năng tài chính bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ cam kết theo hợp đồng cho thuê tài chính;
đ) Đối với tổ chức Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho thuê tài chính không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động tại Việt Nam; đối với cá nhân nước ngoài, thời hạn cho thuê tài chính không vượt quá thời hạn được phép cư trú còn lại tại Việt Nam.
Đối với khoản thuê tài chính có giá trị nhỏ dưới 400.000.000 đồng, bên thuê tài chính không phải đáp ứng điều kiện về phương án sử dụng tài sản cho thuê tài chính khả thi.
Ngoài ra, bên thuê tài chính cũng phải tuân thủ các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng về các trường hợp không được cấp tín dụng và hạn chế cấp tín dụng.
5. Tài sản cho thuê tài chính
Theo Thông tư 31, tài sản cho thuê tài chính bao gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận tải, trong đó đối với tàu biển chỉ bao gồm tàu biển vận tải biển nội địa; phần mềm, quyền khai thác, tài sản trí tuệ, dữ liệu và các quyền tài sản khác, với điều kiện không thuộc danh mục tài sản bị pháp luật cấm sở hữu, mua bán, sử dụng, kinh doanh, xuất khẩu hoặc nhập khẩu.
So với Thông tư 26, Thông tư 31 đã bổ sung quyền tài sản vào danh mục tài sản cho thuê tài chính, đồng thời mở rộng phạm vi phương tiện vận tải có thể được sử dụng làm tài sản cho thuê tài chính.
Theo đó, về nguyên tắc, tàu bay, phương tiện bay, phương tiện vận tải đường bộ, phương tiện vận tải đường thủy nội địa và tàu biển vận tải biển nội địa có thể được coi là tài sản cho thuê tài chính nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Quy định mới của Thông tư 31 theo đó mở rộng đáng kể phạm vi tài sản có thể được sử dụng trong hoạt động cho thuê tài chính so với Thông tư 30/2015/TT-NHNN.
Cần lưu ý rằng tài sản cho thuê tài chính chủ yếu bao gồm động sản và quyền tài sản, không bao gồm quyền sử dụng đất và bất động sản.
Bên cho thuê tài chính là chủ sở hữu tài sản cho thuê tài chính trong suốt thời hạn thuê, không phụ thuộc vào hình thức cho thuê tài chính hay mua và cho thuê lại.
Bên thuê tài chính là bên ký kết hợp đồng mua hoặc nhập khẩu tài sản cho thuê tài chính, chịu trách nhiệm hoàn thiện giấy tờ về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản và đứng tên trên giấy tờ về quyền sở hữu tài sản trong trường hợp tài sản phải đăng ký quyền sở hữu.
Trừ trường hợp pháp luật có liên quan yêu cầu bên thuê tài chính phải nắm giữ bản gốc giấy chứng nhận quyền sở hữu, bên cho thuê tài chính sẽ là bên trực tiếp nắm giữ bản gốc giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản cho thuê tài chính.
Do bản chất của hoạt động cho thuê tài chính là bên cho thuê tài chính mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê tài chính hoặc mua tài sản của bên thuê tài chính và cho bên thuê thuê lại, bên thuê tài chính là bên chịu trách nhiệm lựa chọn tài sản và đồng thời chịu rủi ro đối với các vấn đề phát sinh liên quan đến tài sản, bao gồm trường hợp tài sản không đáp ứng kỳ vọng khi đưa vào sử dụng.
Bên thuê tài chính cũng chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng, bảo dưỡng, bảo trì tài sản, đồng thời chịu các chi phí liên quan đến bảo dưỡng, sửa chữa, bảo trì, mua bảo hiểm và quản lý tài sản.
Trong trường hợp tài sản bị mất, hỏng không thể phục hồi, sửa chữa hoặc thay thế, bên thuê tài chính phải chịu các rủi ro và nghĩa vụ tài chính phát sinh theo hợp đồng và quy định pháp luật.
6. Hợp đồng cho thuê tài chính và chấm dứt hợp đồng
6.1. Hợp đồng cho thuê tài chính
Theo Thông tư 31, hợp đồng cho thuê tài chính là thỏa thuận giữa bên cho thuê tài chính và bên thuê tài chính về việc cho thuê một hoặc một số tài sản cho thuê tài chính. Nội dung chính của hợp đồng được quy định tại Điều 18 Thông tư 31.
Ngoài các nội dung bắt buộc theo quy định, bên thuê tài chính cần chủ động rà soát các thỏa thuận với bên cung ứng tài sản về tài sản, việc bàn giao và trách nhiệm của bên cung ứng, đồng thời rà soát hợp đồng mua tài sản giữa bên cho thuê tài chính và bên cung ứng.
Việc rà soát này nhằm bảo đảm tài sản được bàn giao đúng hạn, đáp ứng các điều kiện kỹ thuật và yêu cầu của hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời xác định rõ trách nhiệm bảo trì, bảo dưỡng và bảo hành của bên cung ứng.
Bên thuê tài chính cũng cần chủ động đàm phán với bên cho thuê tài chính về phí cam kết thực hiện hợp đồng và cơ chế xử lý trong trường hợp tài sản không được bàn giao, bàn giao không đúng thời hạn, không đáp ứng yêu cầu, không có khả năng sử dụng hoặc bị hư hỏng, mất mát do rủi ro hoặc sự kiện bất khả kháng.
Do hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng cấp tín dụng trung và dài hạn, các bên cũng cần hiểu rõ cơ chế cơ cấu lại thời hạn trả nợ, chuyển nợ quá hạn, lãi quá hạn, lãi và phí khi chấm dứt hợp đồng trước hạn, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, bảo hiểm, xử lý tài sản và các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Đối với bên thuê tài chính, cần đặc biệt lưu ý khả năng sử dụng tài sản trong các hoạt động hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên kết hoặc cho thuê lại một phần hoặc toàn bộ tài sản nhằm tối đa hóa khả năng khai thác tài sản thuê.
6.2. Chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính
Hợp đồng cho thuê tài chính về nguyên tắc là hợp đồng không hủy ngang, trừ các trường hợp được quy định tại Điều 20.1 Thông tư 31.
Theo đó, kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, mỗi bên không được đơn phương từ chối thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, trừ khi xảy ra các trường hợp được pháp luật hoặc hợp đồng quy định, bao gồm:
a) Bên cho thuê tài chính phát hiện bên thuê tài chính cung cấp thông tin sai sự thật hoặc vi phạm nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, thỏa thuận cho thuê tài chính hoặc hợp đồng bảo đảm;
b) Tài sản cho thuê tài chính bị mất, hỏng không thể phục hồi, sửa chữa và không thể thay thế;
c) Bên cho thuê tài chính vi phạm một trong các điều khoản, điều kiện là căn cứ chấm dứt hợp đồng được quy định trong hợp đồng;
d) Các trường hợp chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước hạn theo quy định của pháp luật và hợp đồng.
Cần lưu ý rằng tài sản có thể không được bàn giao, được bàn giao không đúng yêu cầu hoặc phát sinh việc gia hạn thời gian giao tài sản, trách nhiệm thay thế tài sản của bên cung ứng, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tài sản và cơ hội kinh doanh của bên thuê tài chính.
Trong những trường hợp này, bên thuê tài chính cần thảo luận và quy định rõ cơ chế xử lý trong hợp đồng để bảo đảm quyền và lợi ích của mình.
6.3. Xử lý trường hợp chấm dứt hợp đồng trước hạn
Các quy định về xử lý trường hợp chấm dứt hợp đồng trước thời hạn tại Điều 21.1 Thông tư 31 cho thấy, ngay cả trong trường hợp tài sản bị mất, hỏng không thể sửa chữa hoặc thay thế, bên thuê tài chính có thể vẫn phải thanh toán toàn bộ tiền thuê tài chính còn lại theo hợp đồng, không phụ thuộc vào nguyên nhân dẫn đến việc mất, hỏng tài sản là do lỗi của bên thuê hay do sự kiện bất khả kháng.
Do đó, bên thuê tài chính cần chủ động thảo luận với bên cho thuê tài chính về các biện pháp phòng ngừa rủi ro, đặc biệt là nghĩa vụ và chi phí bảo hiểm đối với tài sản.
Ngoài các nội dung đã được thỏa thuận trong hợp đồng, bên cho thuê tài chính còn có thể thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật. Vì vậy, bên thuê tài chính cần bảo đảm tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng và chủ động áp dụng các biện pháp bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và các biện pháp quản trị rủi ro phù hợp trong suốt thời hạn hợp đồng.
7. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
Hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng thương mại nhằm mục đích lợi nhuận. Theo đó, các bên có thể thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại trọng tài Việt Nam, trọng tài quốc tế, trọng tài nước ngoài hoặc Tòa án có thẩm quyền.
Đối với các hợp đồng cho thuê tài chính vận hành được ký kết theo Thông tư số 30/2015/TT-NHNN mà tài sản có liên quan đến quyền sử dụng đất, các bên cần đặc biệt lưu ý đến quy định về thẩm quyền tài phán riêng biệt của Tòa án Việt Nam để lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp phù hợp, tùy thuộc vào đối tượng của hợp đồng và khả năng công nhận, cho thi hành phán quyết tại Việt Nam.
8. Các khuyến nghị đối với bên thuê tài chính
Hợp đồng cho thuê tài chính là một phương thức tài trợ vốn giúp doanh nghiệp có được tài sản phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, do hợp đồng cho thuê tài chính về nguyên tắc là hợp đồng không hủy ngang, bên thuê tài chính có thể phải chịu các nghĩa vụ đáng kể trong suốt thời hạn thuê, từ việc lựa chọn tài sản, lựa chọn nhà cung ứng, quản lý, bảo dưỡng, bảo trì và bảo hiểm tài sản đến việc chịu rủi ro trong trường hợp tài sản bị mất, hỏng không thể sửa chữa hoặc thay thế.
Trên cơ sở đó, trước khi ký kết và trong quá trình thực hiện giao dịch, bên thuê tài chính nên đặc biệt lưu ý các vấn đề sau:
Thứ nhất, rà soát kỹ tài sản và bên cung ứng tài sản. Bên thuê cần xác định rõ tính hợp pháp, tình trạng, quyền sở hữu và khả năng sử dụng tài sản; đồng thời đánh giá năng lực của bên cung ứng và khả năng đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật, tiến độ bàn giao, bảo hành và bảo trì.
Thứ hai, đàm phán đầy đủ các cơ chế bảo vệ bên thuê trong hợp đồng. Đặc biệt cần quy định rõ trách nhiệm của các bên trong trường hợp tài sản không được bàn giao, bàn giao chậm, không đúng yêu cầu, không thể sử dụng hoặc phát sinh sự kiện bất khả kháng; đồng thời làm rõ các khoản phí, nghĩa vụ thanh toán và cơ chế chấm dứt hợp đồng trước hạn.
Thứ ba, chủ động quản trị rủi ro đối với tài sản. Do bên thuê tài chính thường là bên chịu phần lớn rủi ro liên quan đến việc lựa chọn, sử dụng và bảo quản tài sản, doanh nghiệp cần đánh giá đầy đủ nhu cầu bảo hiểm và phân bổ trách nhiệm bảo hiểm, bảo dưỡng, sửa chữa và thay thế tài sản ngay từ khi đàm phán giao dịch.
Thứ tư, rà soát các hạn chế liên quan đến việc sử dụng và khai thác tài sản. Trường hợp doanh nghiệp dự kiến sử dụng tài sản trong hoạt động hợp tác kinh doanh, liên doanh, liên kết hoặc cho thuê lại, cần kiểm tra trước các hạn chế theo pháp luật, hợp đồng cho thuê tài chính và thỏa thuận với bên cho thuê tài chính.
Thứ năm, tăng cường kiểm soát nội bộ đối với giao dịch. Việc lựa chọn tài sản, định giá, lựa chọn nhà cung ứng và đàm phán hợp đồng cần được thực hiện theo quy trình kiểm soát nội bộ phù hợp, đặc biệt nhằm phòng ngừa các rủi ro về xung đột lợi ích, định giá không phù hợp và các vấn đề liên quan đến phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp.
Thứ sáu, lưu ý các yêu cầu về ngoại tệ và nguồn trả nợ. Trường hợp giao dịch có sử dụng ngoại tệ, doanh nghiệp cần rà soát các điều kiện áp dụng đối với bên cho thuê tài chính và bên thuê tài chính, cũng như khả năng đáp ứng nguồn ngoại tệ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định.
Nhìn chung, doanh nghiệp không nên chỉ xem hợp đồng cho thuê tài chính như một hợp đồng tài trợ vốn đơn thuần. Việc đánh giá tài sản, nhà cung ứng, cơ chế phân bổ rủi ro, bảo hiểm, nghĩa vụ thanh toán và các trường hợp chấm dứt hợp đồng cần được thực hiện đồng thời ngay từ giai đoạn đàm phán giao dịch. Đối với các giao dịch có giá trị lớn hoặc có cấu trúc phức tạp, doanh nghiệp nên thực hiện rà soát pháp lý độc lập đối với hợp đồng cho thuê tài chính, hợp đồng mua tài sản và các thỏa thuận liên quan trước khi ký kết.
Tuyên bố miễn trừ
Nội dung bài viết chỉ nhằm cung cấp thông tin pháp lý và không được xem là ý kiến tư vấn pháp lý của tác giả hoặc BFSC Law LLC đối với bất kỳ tình huống cụ thể nào liên quan đến giao dịch cho thuê tài chính.
Các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính, hợp đồng cho thuê tài chính, hợp đồng mua tài sản cho thuê tài chính, cơ cấu lại khoản nợ, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, xử lý tài sản cho thuê tài chính hoặc giải quyết tranh chấp cần được xem xét trên cơ sở các tình tiết cụ thể và được tư vấn bởi luật sư có chuyên môn và kinh nghiệm phù hợp.
Do đó, chúng tôi khuyến nghị khách hàng không sử dụng nội dung của bài viết này để áp dụng trực tiếp cho các tình huống thực tế mà chưa có ý kiến tư vấn pháp lý phù hợp.
Quý khách hàng có nhu cầu tư vấn về giao dịch thuê tài chính/cho thuê tài chính, vui lòng liên hệ với BFSC Law LLC tại Hà Nội.
Mọi trao đổi liên quan đến bài viết, vui lòng liên hệ với tác giả bài viết – Luật sư Phan Quang Chung.

