Khung pháp lý về quyền của nhà sản xuất trong nước đối với các biện pháp phòng vệ thương mại theo Luật quản lý ngoại thương.
Tuân thủ cam kết trong WTO về các biện pháp phòng vệ thương mại, Ủy ban thường vụ Quốc hội Việt Nam đã ban hành (i) Pháp lệnh về Tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam số 42/2002/PL-UBTVQH10; (ii) Pháp lệnh Chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam số 20/2004/PL-UBTVQH11; (iii) Pháp lệnh Chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam số 22/2004/PL-UBTVQH11. Ngày 12 tháng 06 năm 2017, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14, hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018 trên cơ sở tích hợp có sửa đổi, bổ sung các quy định tại ba Pháp lệnh nêu trên và các quy định của Luật Thương mại số 36/2005/QH11 (“Luật quản lý ngoại thương”). Để quy định chi tiết thi hành Luật quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại, Chính phủ và Bộ Công thương đã ban hành Nghị định và các Thông tư hướng dẫn chi tiết về các biện pháp phòng vệ thương mại, cụ thể như sau:
Giai đoạn 2018 – 2025:
Ngày 15/01/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/2018/NĐ-CP ngày 20/04/2018, hiệu lực thi hành ngày 15/06/2018 quy định chi tiết một số nội dung về các biện pháp phòng vệ thương mại; Ngày 20/04/2018, Bộ Công thương ban hành Thông tư số 06/2018/TT-BTC, hiệu lực thi hành ngày 15/06/2018 quy định chi tiết một số nội dung về phòng vệ thương mại. Đến ngày 29/11/2019, Bộ Công thương ban hành Thông tư số 37/2019/TT-BCT, hiệu lực thi hành từ ngày 15/01/2020, thay thế Thông tư số 06/2018/TT-BCT. Ngày 28/12/2023, Bộ Công thương ban hành Thông tư số 42/2023/TT-BTC, hiệu lực thi hành ngày 16/02/2024 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 37/2019/TT-BTC.
Giai đoạn 2025 đến nay:
Ngày 11/04/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 86/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật quản lý ngoại thương về các biện pháp phòng vệ thương mại ban hàng ngày, hiệu lực thi hành ngày 01/07/2025 (“Nghị định 86”), thay thế cho Nghị định 10/2018/NĐ-CP. Ngày 15/05/2025, Bộ Công thương ban hành Thông tư số 26/2025/TT-BTC, hiệu lực thi hành ngày 01/07/2025 (“Thông tư 26”), thay thế Thông tư số 37/2019/TT-BTC.
Từ ngày 01/07/2025 đến nay, quy định của pháp luật Việt Nam về các biện pháp phòng vệ thương mại được thống nhất chủ yếu tại Luật quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14, Nghị định số 86/2025/NĐ-CP và Thông tư số 26/2025/TT-BTC.
Phù hợp với các quy định của WTO, pháp luật Việt Nam cũng quy định ba biện pháp phòng vệ thương mại chủ yếu gồm: (i) chống bán phá giá; (ii) biện pháp chống trợ cấp; (iii) biện pháp tự vệ với các quy định chi tiết về điều kiện áp dụng, trình tự và thủ tục áp dụng đối với mỗi biện pháp phòng vệ thương mại và quyền, nghĩa vụ của các nhà sản xuất trong nước, nhà nhập khẩu hàng hóa, nhà xuất khẩu hàng hóa vào Việt nam trong quá trình khởi xướng, điều tra, áp dụng, rà soát áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.
Trong bài viết này, luật sư của BFSC Law LLC phân tích các quy định của Luật quản lý ngoại thương, Nghị định 86, Thông tư 26 về quyền của các nhà sản xuất trong nước đối với các biện pháp phòng vệ thương mại đồng thời đưa ra các khuyến nghị trong việc đảm bảo thực thi quyền của các nhà sản xuất trong nước.
1. Nhà sản xuất trong nước, ngành sản xuất trong nước, xác định mức độ thiệt hại của ngành sản xuất trong nước trong các vụ việc về phòng vệ thương mại.
1.1. Nhà sản xuất trong nước
Theo các hiểu tại Điều 69.1 Luật quản lý ngoại thương, nhà sản xuất trong nước là cá nhân, tổ chức sản xuất ra hàng hóa trong lãnh thổ Việt Nam tương tự với hàng hóa bị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.
Cần lưu ý rằng, theo Điều 69.1 Luật quản lý ngoại thương, trường hợp nhà sản xuất trong nước trực tiếp nhập khẩu hàng hóa bị điều tra hoặc có mối quan hệ với các nhà xuất khẩu hoặc nhập khẩu hàng hóa bị điều tra thì nhà sản xuất này có thể không được xem là nhà sản xuất trong nước.
Cũng cần lưu ý rằng, theo Điều 69.1 Luật quản lý ngoại thương, hàng hóa tương tự là hàng hóa có tất cả các đặc tính giống với hàng hóa bị điều tra. Trong trường hợp không có hàng hóa nào như vậy thì hàng hóa tương tự là hàng hóa có nhiều đặc tính cơ bản giống với hàng hóa bị điều tra.
1.2. Ngành sản xuất trong nước
Cũng theo Điều 69.1 Luật quản lý ngoại thương, ngành sản xuất trong nước là tập hợp các nhà sản xuất hàng hóa tương tự trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam hoặc đại diện của họ chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng sản lượng hàng hóa của ngành đó được sản xuất trong nước.
Điều 4.2 Nghị định 86 quy định chi tiết về “tỷ lệ chủ yếu” như sau:
(i)Trong vụ việc chống bán phá giá và vụ việc chống trợ cấp, khối lượng, số lượng hàng hóa sản xuất chiếm ít nhất 50% tổng khối lượng, số lượng được sản xuất ở trong nước của hàng hóa tương tự với hàng hóa bị điều tra được coi là chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng sản lượng hàng hóa của ngành sản xuất trong nước;
(ii) Trong vụ việc tự vệ, khối lượng, số lượng hàng hóa sản xuất chiếm ít nhất 50% tổng khối lượng, số lượng được sản xuất ở trong nước của hàng hóa tương tự hoặc hàng hóa cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa bị điều tra được coi là chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng sản lượng hàng hóa của ngành sản xuất trong nước.
Cần lưu ý rằng, theo Điều 4.3 Nghị định 86, cơ quan điều tra có thể xem xét tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ quy định tại Điều 4.2 như đã được nêu trên nếu có căn cứ cho thấy tỷ lệ thấp hơn đó đủ để coi là chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng sản lượng hàng hóa của ngành sản xuất trong nước.
Một nội dung khác cũng cần được lưu ý là theo Điều 4.4 Nghị định 86, việc xác định “ngành sản xuất trong nước” không nhất thiết phải là tính trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam mà có thể được xác định trong một thị trường địa lý xác định nằm trong lãnh thổ Việt Nam nếu đáp ứng các quy định được mô tả tại Điều 4.4 Nghị định.
2. Các biện pháp phòng vệ thương mại
Luật quản lý ngoại thương quy định ba biện pháp phòng vệ thương mại chính gồm (i) chống bán phá giá; (ii) biện pháp chống trợ cấp; (iii) biện pháp tự vệ. Quá trình áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại này có thể phát sinh thêm các thủ tục gồm chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và rà soát áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.
Phần tiếp theo dưới đây sẽ đề cập đến định nghĩa, điều kiện áp dụng và các biện pháp phòng vệ thương mại sẽ được áp dụng tương ứng biện pháp phòng vệ thương mại.
2.1. Biện pháp chống bán phá giá
2.1.1. Định nghĩa
Biện pháp chống bán phá giá là biện pháp được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được xác định bị bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam gây ra thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước.
Hàng hóa được xác định bị bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam với giá thấp hơn giá thông thường là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự bán tại nước xuất khẩu hoặc tại một nước thứ ba trong các điều kiện thương mại thông thường hoặc mức giá mà Cơ quan điều tra xác định bằng phương pháp tự tính toán.
2.1.2. Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá
(i) Hàng hóa bị xác định là bán phá giá với biên độ được xác định cụ thể và ở mức biên độ từ 2% trở lên;
(ii) Ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước;
(iii) Tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa việc nhập khẩu hàng hóa bị bán phá giá quy định tại mục 2.1.2(i) với thiệt hại của ngành sản xuất trong nước quy định tại mục 2.1.2(ii).
2.1.3. Các biện pháp chống bán phá giá
(i) Áp dụng thuế chống bán phá giá;
(ii) Cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá với Cơ quan điều tra của Việt Nam hoặc với các nhà sản xuất trong nước nếu được Cơ quan điều tra chấp thuận.
2.2. Biện pháp chống trợ cấp
2.2.1. Định nghĩa
Biện pháp chống trợ cấp là biện pháp được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được trợ cấp khi nhập khẩu vào Việt Nam gây ra thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể của ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước.
2.2.1.1. Thế nào là trợ cấp?
Theo Điều 84 Luật quản lý ngoại thương, trợ cấp là sự đóng góp của Chính phủ hoặc bất kỳ tổ chức công nào ở quốc gia có hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam dưới các hình thức sau đây đem lại lợi ích cho tổ chức, cá nhân nhận trợ cấp:
1. Chính phủ thực tế chuyển vốn trực tiếp cho tổ chức, cá nhân hoặc nhận nợ trực tiếp cho tổ chức, cá nhân;
2. Chính phủ bỏ qua hoặc không thu các khoản thu mà tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp cho Chính phủ;
3. Chính phủ cung cấp cho tổ chức, cá nhân tài sản, hàng hóa hoặc dịch vụ không phải là cơ sở hạ tầng chung;
4. Chính phủ mua tài sản, hàng hóa hoặc dịch vụ của tổ chức, cá nhân với giá cao hơn giá thị trường;
5. Chính phủ bán tài sản, hàng hóa hoặc dịch vụ cho tổ chức, cá nhân với giá thấp hơn giá thị trường;
6. Chính phủ góp tiền vào một cơ chế tài trợ; ủy thác, giao hoặc chỉ đạo, yêu cầu tổ chức tư nhân thực hiện một hoặc một số hoạt động được quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 của Điều này thông thường thuộc chức năng của Chính phủ và trong thực tế không khác với những hoạt động thông thường của Chính phủ;
7. Bất kỳ hình thức hỗ trợ về thu nhập hoặc giá;
8. Bất kỳ hình thức trợ cấp nào khác không thuộc quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 của Điều này được xác định dựa trên nguyên tắc công bằng, hợp lý, không trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2.2.1.2. Khi nào các trợ cấp có thể bị áp dụng biện pháp chống trợ cấp?
Theo quy định tại Điều 85 Luật quản lý ngoại thương, các trợ cấp sau đây có thể bị áp dụng biện pháp chống trợ cấp, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác:
1. Trợ cấp dựa vào kết quả xuất khẩu;
2. Trợ cấp nhằm mục đích ưu tiên sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước hơn hàng hóa nhập khẩu;
3. Các trợ cấp quy định tại Điều 84 của Luật này làm vô hiệu hoặc ảnh hưởng đến những quyền lợi mà Việt Nam trực tiếp hoặc gián tiếp được hưởng theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2.2.2. Điều kiện áp dụng biện pháp chống trợ cấp
(i) Hàng hóa được xác định có trợ cấp theo quy định tại Điều 84 và Điều 85 của Luật quản lý ngoại thương và mức trợ cấp được xác định cụ thể, trừ trường hợp được loại trừ tại khoản 2 Điều 86;
(ii) Ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuất trong nước;
(iii) Tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa việc nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp quy định tại mục 2.2.2(i) với thiệt hại của ngành sản xuất trong nước quy định tại mục 2.2.2(ii).
Trường hợp loại trừ theo khoản 2 Điều 86: Không áp dụng biện pháp chống trợ cấp đối với nhà sản xuất, xuất khẩu ở các nước phát triển có mức trợ cấp không vượt quá 1% giá xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam, nhà sản xuất hoặc xuất khẩu ở các nước đang phát triển có mức trợ cấp không vượt quá 2% giá xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam và nhà sản xuất hoặc xuất khẩu ở các nước kém phát triển có mức trợ cấp không vượt quá 3% giá xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam.
2.2.3 Các biện pháp chống trợ cấp
(i) Áp dụng thuế chống trợ cấp;
(ii) Cam kết của tổ chức, cá nhân hoặc của Chính phủ nước sản xuất, xuất khẩu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam về việc tự nguyện chấm dứt trợ cấp, giảm mức trợ cấp, cam kết điều chỉnh giá xuất khẩu;
(iii) Các biện pháp chống trợ cấp khác.
2.3. Biện pháp tự vệ
2.3.1. Định nghĩa
Biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam (sau đây gọi là biện pháp tự vệ) là biện pháp được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được nhập khẩu quá mức vào Việt Nam gây ra thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng của ngành sản xuất trong nước.
2.3.2. Điều kiện áp dụng
(i) Nhập khẩu quá mức khi khối lượng hoặc số lượng hàng hóa nhập khẩu gia tăng một cách tuyệt đối hoặc tương đối so với khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự được sản xuất trong nước;
(ii) Ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại nghiêm trọng hoặc bị đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng;
(iii) Việc gia tăng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa nhập khẩu quy định tại mục 2.3.2(i) là nguyên nhân chính gây ra thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng của ngành sản xuất trong nước.
2.3.3. Các biện pháp tự vệ
(i) Áp dụng thuế tự vệ;
(ii) Áp dụng hạn ngạch nhập khẩu;
(iii) Áp dụng hạn ngạch thuế quan;
(iv) Cấp giấy phép nhập khẩu;
(v) Các biện pháp tự vệ khác.
3. Các quyền cơ bản của nhà sản xuất trong nước đối với các biện pháp phòng vệ thương mại
3.1. Quyền trong giai đoạn chuẩn bị và nộp hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại
Quyền nộp hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá và quyền nộp hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp chống trợ cấp chỉ dành cho nhà sản xuất trong nước hoặc nhóm nhà sản xuất trong nước đáp ứng đầy đủ hai điều kiện để được coi là “đại diện cho ngành sản xuất trong nước” được quy định tại Điều 79.2 và Điều 87.2 Luật quản lý ngoại thương.
Do đó, đối với yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá, yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp chống trợ cấp, nhà sản xuất trong nước được quyền tham gia với tư cách người nộp hồ sơ yêu cầu hoặc người ủng hộ yêu cầu áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại hoặc người phản đối áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại. Ảnh hưởng của quyết định phản đối áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp là rất rõ rệt và có khả năng làm triệt tiêu quyền của các nhà sản xuất trong nước còn lại.
Tuy nhiên, đối với yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp tự vệ, Điều 93.1 Luật quản lý ngoại thương chỉ quy định việc điều tra áp dụng biện pháp tự vệ được thực hiện khi có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ của tổ chức, cá nhân trong nước sản xuất hàng hóa tương tự hoặc hàng hóa cạnh tranh trực tiếp là hàng hóa có khả năng được người mua chấp nhận thay thế cho hàng hóa thuộc phạm vi áp dụng các biện pháp tự vệ do ưu thế về giá và mục đích sử dụng (với điều kiện là lồ sơ cung cấp bằng chứng rõ ràng theo quy định tại Điều 93.2).
Do đó, đối với yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp tự vệ, ảnh hưởng của quyết định phản đối áp dụng biện pháp tự vệ của nhà sản xuất trong nước là không rõ ràng, nhất là trong bối cảnh xem xét quy định về căn cứ tiến hành điều tra áp dụng biện pháp tự vệ tại Điều 93.1 và về quyền nộp hồ sơ yêu cầu của đại diện ngành sản xuất trong nước trong quy định về trình tự, thủ tục tiến hành điều tra phòng vệ thương mại tại Điều 70.1 Luật quản lý ngoại thương.
3.2. Giai đoạn điều tra của Cơ quan điều tra phòng vệ thương mại (“Cơ quan điều tra”)
Tổ chức, cá nhân có liên quan, bao gồm nhà sản xuất trong nước phải đăng ký với Cơ quan điều tra và được Cơ quan điều tra chấp thuận là bên liên quan trong hoạt động điều tra để được tham gia vào hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra và hưởng các quyền, chịu các nghĩa vụ tương ứng.
Theo quy định tại Điều 74 Luật quản lý ngoại thương và Điều 6 Thông tư 26, các tổ chức, cá nhân dưới đây không phải thực hiện thủ tục đăng ký và được Cơ quan điều tra chấp thuận là bên liên quan: (i) Tổ chức, cá nhân có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại; (ii) Tổ chức, cá nhân ở nước ngoài sản xuất, xuất khẩu hàng hóa vào lãnh thổ Việt Nam bị điều tra; (iii) Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu hàng hóa bị điều tra. Các tổ chức, cá nhân dưới đây sẽ phải thực hiện thủ tục đăng ký và được Cơ quan điều tra chấp thuận là bên liên quan: (i) Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa bị điều tra; (ii) Hiệp hội nước ngoài có đa số thành viên là các tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị điều tra; (iii) Tổ chức, cá nhân trong nước sản xuất hàng hóa tương tự (nhóm ủng hộ hoặc phản đối nhưng không nộp hồ sơ yêu cầu điều tra); (iv) Hiệp hội trong nước có đa số thành viên là các tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa tương tự; (v) Tổ chức, cá nhân khác có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ việc điều tra hoặc có thể giúp ích cho quá trình điều tra hoặc tổ chức đại diện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Cần lưu ý rằng, Nghị định 86 và Thông tư 26 phân loại tổ chức, cá nhân tham gia vào vụ việc phòng vệ thương mại với các quyền, nghĩa vụ khác nhau, trong đó:
3.2.1. Nhóm 1:
Bên yêu cầu, Bên bị yêu cầu và Bên có liên quan có mối quan hệ (Bên mối quan hệ liên kết) với Bên yêu cầu, Bên bị yêu cầu trong vụ việc phòng vệ thương mại. Nhóm 1 có các quyền, và nghĩa vụ quy định đối với Bên yêu cầu, Bên bị yêu cầu theo quy định tại Điều 6 Nghị định 86, gồm:
3.2.1.1. Các quyền:
a) Tiếp cận các thông tin mà các bên liên quan khác cung cấp cho Cơ quan điều tra, trừ những thông tin được bảo mật theo quy định;
b) Gửi ý kiến về dự thảo kết luận điều tra, dự thảo kết luận rà soát việc áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại và biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại trong thời hạn 07 ngày tính từ ngày Cơ quan điều tra gửi dự thảo để lấy ý kiến;
c) Kiến nghị Cơ quan điều tra gia hạn thời hạn cung cấp thông tin, gia hạn thời hạn trả lời bản câu hỏi điều tra;
d) Yêu cầu bảo mật thông tin theo quy định;
đ) Tham gia tham vấn và trình bày quan điểm, cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc phòng vệ thương mại;
e) Ủy quyền cho chủ thể khác thay mặt mình tham gia quá trình giải quyết vụ việc phòng vệ thương mại;
g) Yêu cầu Cơ quan điều tra tổ chức tham vấn riêng theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định 86;
h) Khiếu nại, khởi kiện các quyết định của Bộ trưởng Bộ Công Thương theo quy định pháp luật về khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính.
3.2.1.2. Các nghĩa vụ:
a) Bảo đảm tính đầy đủ, trung thực và chính xác của chứng cứ, thông tin, tài liệu do mình cung cấp;
b) Cung cấp đầy đủ, trung thực, chính xác các chứng cứ, thông tin, tài liệu theo yêu cầu của Cơ quan điều tra trong thời hạn yêu cầu;
c) Thi hành các quyết định của Bộ trưởng Bộ Công Thương.
Cần lưu ý rằng, Điều 5.1 Nghị định 86 quy định về “Nhà sản xuất hàng hóa tương tự được xác định là có mối quan hệ với tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa bị điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Quản lý ngoại thương”. Còn Điều 7.2 Thông tư 26 quy định về “Bên liên quan có mối quan hệ liên kết với bên yêu cầu và bên bị yêu cầu trong vụ việc phòng vệ thương mại”.
3.2.2. Nhóm 2:
Bên liên quan khác quy định tại Điều 74.1 Luật quản lý ngoại thương, trừ các tổ chức, cá nhân quy định tại các Điều 74.1 (a, b, c, d, đ) Luật quản lý ngoại thương. Nhóm 2 có các quyền, nghĩa vụ được quy định tại Điều 7.1 Thông tư 26, gồm:
a) Cung cấp thông tin trung thực và tài liệu cần thiết liên quan đến vụ việc điều tra phòng vệ thương mại theo quan điểm của mình hoặc theo yêu cầu của Cơ quan điều tra;
b) Yêu cầu Cơ quan điều tra bảo mật thông tin theo quy định tại Điều 11 Thông tư 26;
c) Tiếp cận thông tin về vụ việc điều tra phòng vệ thương mại của Cơ quan điều tra, trừ những thông tin được bảo mật theo quy định tại Điều 11 Thông tư 26;
d) Tham gia tham vấn và trình bày quan điểm, cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc phòng vệ thương mại.
Trong giai đoạn điều tra, các bên liên quan cần tập trung cho việc theo dõi tiến trình điều tra và thực hiện các quyền: (i) tham vấn và đưa ra ý kiến,cung cấp thông tin, tài liệu và đưa ra yêu cầu; (ii) yêu cầu bảo mật thông tin; (iii) đưa ra ý kiến về dự thảo kết luận sơ bộ, dự thảo kết luận điều tra, cam kết của nhà sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị điều tra hoặc Chính phủ nước có hàng hóa bị điều tra.
(Các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên liên quan trong vụ việc điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại sẽ được phân tích trong một bài viết khác).
3.3. Giai đoạn áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại
3.3.1. Quyền yêu cầu điều tra chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại
Lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại là hành vi nhằm trốn tránh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ thực thi biện pháp phòng vệ thương mại đang có hiệu lực đối với hàng hóa thuộc đối tượng áp dụng biện pháp này khi nhập khẩu vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 72.1 Luật quản lý ngoại thương).
Điều 72.3 Luật quản lý ngoại thương, Cơ quan điều tra có thể tiến hành điều tra hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại căn cứ vào (i) yêu cầu của đại diện ngành sản xuất trong nước; hoặc (ii)các thông tin mà Cơ quan điều tra có được.
Cần lưu ý rằng, quyền yêu cầu điều tra hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại chỉ dành cho tổ chức, cá nhân hoặc nhóm tổ chức, cá nhân đáp ứng các điều kiện để được coi là đại diện cho ngành sản xuất trong nước, không phải là quyền dành cho mọi nhà sản xuất trong nước.
3.3.2. Quyền yêu cầu rà soát áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại.
3.3.2.1. Yêu cầu rà soát áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp
Ngoại trừ trường hợp yêu cầu rà soát định kỳ hàng năm và trường hợp yêu cầu rà soát cuối kỳ áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp, Luật quản lý ngoại thương và Nghị định 86 quy định các bên liên quan được quyền nộp hồ sơ yêu cầu rà soát vào bất cứ thời điểm nào sau khi biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp chính thức được áp dụng đối với các yêu cầu rà soát sau đây:
(i) yêu cầu rà soát nhà xuất khẩu mới (áp dụng đối với biện pháp chống bán phá giá và biện pháp chống trợ cấp);
(ii) yêu cầu rà soát phạm vi hàng hóa áp dụng (áp dụng đối với viện pháp chống bán phá giá và biện pháp chống trợ cấp);
(iii) Yêu cầu rà soát do hoàn cảnh thay đổi ( áp dụng đối với biện pháp chống trợ cấp).
3.3.2.2. Yêu cầu rà soát áp dụng biện pháp tự vệ.
Theo Luật quản lý ngoại thương, bên liên quan (bao gồm nhà sản xuất trong nước) được quyền yêu cầu rà soát giữa kỳ và yêu cầu rà soát cuối kỳ vào thời gian quy định. Đối với yêu cầu rà soát phạm vi hàng hóa áp dụng biện pháp tự vệ, yêu cầu rà soát có thể được nộp vào bất kỳ thời điểm nào sau thời điểm biện pháp tự vệ được chính thức áp dụng.
3.3.2.3. Yêu cầu rà soát áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.
Luật quản lý ngoại thương không quy định cụ thể về điều kiện thực hiện quyền của đại diện ngành sản xuất trong nước, nhà sản xuất trong nước hoặc bên liên quan đối với yêu cầu rà soát áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại. Tuy nhiên, các quy định tại Nghị định 86 cho thấy việc điều tra rà soát áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại có thể được tiến hành trên cơ sở yêu cầu của các bên liên quan khi có cơ sở để yêu cầu thay đổi, gia hạn biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và thời điểm đưa ra yêu cầu rà soát biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại có thể được bên liên quan đưa ra bất kỳ thời điểm nào sau khi biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại được áp dụng. Nghị định 86 cũng quy định quyền yêu cầu điều tra rà soát áp dụng biện pháp chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại có thể được thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân dưới đây:
(i) Nhà sản xuất trong nước.
(ii) Nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài.
(iii) Nhà xuất khẩu mới.
(iv) Nhà nhập khẩu.
(v) Các tổ chức, cá nhân sử dụng hàng hóa nhập khẩu.
3.3.3. Quyền yêu cầu miễn trừ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại
Thông tư 26 quy định cá nhân, tổ chức hoặc chi nhánh của tổ chức nhập khẩu, sử dụng hàng hóa bị điều tra, áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại để sản xuất; Các tổ chức, cá nhân khác do Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định được quyền nộp hồ sơ yêu cầu miễn trừ áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu đang bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại trong các trường hợp sau:
(i) Hàng hóa nằm trong danh sách được xem xét miễn trừ được quy định tại quyết định áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại hoặc các quyết định về kết quả rà soát của từng vụ việc;
(ii) Hàng hóa mà ngành sản xuất trong nước trong vụ việc tương ứng không sản xuất được;
(iii) Hàng hóa có đặc điểm khác biệt với hàng hóa sản xuất trong nước mà hàng hóa sản xuất trong nước đó không thể thay thế được;
(iv) Hàng hóa là sản phẩm đặc biệt của hàng hóa tương tự hoặc hàng hóa cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong nước;
(v) Hàng hóa tương tự, hàng hóa cạnh tranh trực tiếp được sản xuất trong nước không được bán trên thị trường trong nước trong cùng điều kiện thông thường hoặc trong trường hợp bất khả kháng dẫn tới thiếu hụt nguồn cung của ngành sản xuất trong nước;
(v) Hàng hóa nhập khẩu nằm trong tổng lượng đề nghị miễn trừ quy định từ điểm (i) đến điểm (v) mục này phục vụ mục đích nghiên cứu, phát triển và các mục đích phi thương mại khác.
4. Khuyến nghị thực tiễn đối với nhà sản xuất trong nước
Việc thực hiện quyền trong các vụ việc phòng vệ thương mại không chỉ phụ thuộc vào việc nhà sản xuất trong nước có quyền nộp hồ sơ hoặc tham gia điều tra, mà còn phụ thuộc đáng kể vào khả năng chuẩn bị dữ liệu, phối hợp trong ngành sản xuất trong nước và tuân thủ chặt chẽ các thời hạn tố tụng. Trên cơ sở các quy định được phân tích ở trên, nhà sản xuất trong nước nên cân nhắc các khuyến nghị sau:
4.1. Thiết lập cơ chế theo dõi sớm nguy cơ từ hàng hóa nhập khẩu
Nhà sản xuất trong nước nên xây dựng cơ chế theo dõi định kỳ đối với khối lượng, giá nhập khẩu, giá bán trên thị trường, thị phần, mức độ cạnh tranh và diễn biến của hàng hóa tương tự hoặc hàng hóa cạnh tranh trực tiếp. Việc theo dõi nên được thực hiện trước khi thiệt hại trở nên nghiêm trọng, thay vì chỉ bắt đầu khi doanh nghiệp đã mất đáng kể thị phần hoặc công suất sản xuất.
Dữ liệu nên được lưu trữ theo từng giai đoạn và có khả năng đối chiếu với số liệu bán hàng, sản lượng, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, tồn kho, lao động và công suất sử dụng của doanh nghiệp. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá xu hướng thiệt hại và chứng minh mối quan hệ giữa hàng hóa nhập khẩu và thiệt hại của ngành sản xuất trong nước.
4.2. Xác định đúng tư cách và chiến lược tham gia vụ việc
Trước khi tham gia một vụ việc, nhà sản xuất trong nước cần xác định rõ mình thuộc nhóm nào: bên nộp hồ sơ yêu cầu, bên ủng hộ, bên phản đối, bên liên quan có mối quan hệ hoặc bên liên quan khác. Việc xác định tư cách tham gia có thể ảnh hưởng đến phạm vi quyền tiếp cận thông tin, nghĩa vụ cung cấp dữ liệu, khả năng đưa ra ý kiến và phương thức bảo vệ lợi ích của doanh nghiệp.
Đối với các vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý yêu cầu về tính đại diện của ngành sản xuất trong nước. Không nên mặc nhiên cho rằng việc doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi hàng nhập khẩu đương nhiên đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đủ điều kiện đại diện cho toàn ngành.
4.3. Chuẩn bị bộ dữ liệu chứng minh thiệt hại và quan hệ nhân quả
Nhà sản xuất trong nước nên chuẩn bị sớm một bộ hồ sơ dữ liệu có cấu trúc, bao gồm tối thiểu: sản lượng, công suất và công suất sử dụng; doanh thu, giá bán và lợi nhuận; chi phí sản xuất; tồn kho; thị phần; lao động; tình hình đầu tư; dữ liệu nhập khẩu và giá nhập khẩu; thông tin về khách hàng, kênh phân phối và sự thay đổi trong cạnh tranh.
Các dữ liệu cần được thống nhất về kỳ báo cáo, đơn vị tính, phương pháp hạch toán và nguồn chứng minh. Doanh nghiệp cũng cần phân biệt rõ giữa thiệt hại phát sinh từ hàng hóa nhập khẩu và những yếu tố khác, chẳng hạn biến động nhu cầu, thay đổi công nghệ, chi phí nguyên liệu, quản trị nội bộ hoặc sự thay đổi trong cơ cấu thị trường. Việc phân tích các yếu tố khác giúp hạn chế rủi ro dữ liệu bị đánh giá là không đầy đủ hoặc không chứng minh được quan hệ nhân quả.
4.4. Kiểm soát chất lượng thông tin và tuân thủ thời hạn
Thông tin cung cấp cho Cơ quan điều tra phải đầy đủ, trung thực và chính xác. Doanh nghiệp nên phân công một đầu mối chịu trách nhiệm điều phối giữa bộ phận pháp chế, tài chính – kế toán, kinh doanh, sản xuất, xuất nhập khẩu và quản trị dữ liệu.
Đối với mỗi yêu cầu cung cấp thông tin hoặc bản câu hỏi điều tra, doanh nghiệp nên lập lịch kiểm soát thời hạn, quy trình rà soát nội bộ và cơ chế phê duyệt trước khi nộp. Trường hợp cần thêm thời gian, doanh nghiệp nên chủ động xem xét và gửi yêu cầu gia hạn trong thời hạn phù hợp, thay vì chờ đến sát hạn hoặc bỏ lỡ thời hạn phản hồi.
4.5. Chủ động sử dụng quyền bảo mật, tham vấn và đưa ra ý kiến
Nhà sản xuất trong nước nên đánh giá ngay từ giai đoạn chuẩn bị hồ sơ những thông tin nào chứa bí mật kinh doanh, thông tin thương mại nhạy cảm hoặc dữ liệu có thể gây bất lợi nếu được công khai. Yêu cầu bảo mật cần được chuẩn bị có căn cứ, đồng thời doanh nghiệp nên cung cấp bản tóm tắt không mật hoặc giải thích phù hợp theo yêu cầu của Cơ quan điều tra.
Trong quá trình điều tra, doanh nghiệp cần chủ động theo dõi các dự thảo kết luận, cam kết, nội dung tham vấn và các tài liệu được phép tiếp cận. Quyền tham gia không nên chỉ được sử dụng để phản hồi thụ động; doanh nghiệp có thể sử dụng quyền này để làm rõ dữ liệu, phản biện phương pháp phân tích và bảo vệ quan điểm của mình bằng tài liệu có thể kiểm chứng.
4.6. Theo dõi giai đoạn áp dụng, rà soát và chống lẩn tránh
Sau khi biện pháp phòng vệ thương mại được áp dụng, nhà sản xuất trong nước không nên xem vụ việc đã kết thúc hoàn toàn. Doanh nghiệp cần tiếp tục theo dõi diễn biến nhập khẩu, thay đổi về nguồn gốc xuất xứ, mô hình thương mại, khả năng chuyển hướng hàng hóa và việc thực hiện biện pháp đã áp dụng.
Khi có dấu hiệu lẩn tránh hoặc khi điều kiện thị trường thay đổi, doanh nghiệp nên đánh giá khả năng sử dụng quyền yêu cầu điều tra chống lẩn tránh hoặc yêu cầu rà soát theo quy định tương ứng. Việc chuẩn bị dữ liệu liên tục sẽ giúp doanh nghiệp có cơ sở tốt hơn khi cần chứng minh sự thay đổi của hoàn cảnh hoặc sự cần thiết của việc tiếp tục, điều chỉnh hoặc rà soát biện pháp.
4.7. Xây dựng phương án phối hợp trong ngành sản xuất trong nước
Đối với những vụ việc có tác động rộng đến toàn ngành, nhà sản xuất trong nước nên cân nhắc cơ chế phối hợp với các doanh nghiệp cùng ngành, hiệp hội và đơn vị tư vấn chuyên môn. Cơ chế phối hợp cần làm rõ phạm vi dữ liệu được chia sẻ, trách nhiệm bảo mật, phương thức thống nhất quan điểm và người đại diện làm việc với Cơ quan điều tra.
Việc phối hợp cần được thực hiện trên cơ sở tuân thủ pháp luật cạnh tranh, bảo mật kinh doanh và các nghĩa vụ pháp lý liên quan. Doanh nghiệp không nên trao đổi hoặc chia sẻ những thông tin nhạy cảm vượt quá phạm vi cần thiết cho mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong vụ việc phòng vệ thương mại.
4.8. Rà soát quy định áp dụng theo thời điểm và đặc điểm của từng vụ việc
Trước khi thực hiện quyền nộp hồ sơ, tham gia điều tra, yêu cầu rà soát hoặc yêu cầu điều tra chống lẩn tránh, nhà sản xuất trong nước cần xác định các quy định pháp luật áp dụng đối với từng vụ việc. Việc xác định này không chỉ phụ thuộc vào thời điểm doanh nghiệp thực hiện quyền mà còn cần xem xét thời điểm Cơ quan điều tra tiếp nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ và các quy định chuyển tiếp có liên quan.
Đối với những vụ việc đã được tiếp nhận trước ngày Nghị định số 86/2025/NĐ-CP hoặc Thông tư số 26/2025/TT-BCT có hiệu lực, doanh nghiệp cần kiểm tra các quy định chuyển tiếp để xác định liệu vụ việc có tiếp tục được giải quyết theo văn bản pháp luật trước đó hay không.
Ngoài ra, việc đánh giá quyền, nghĩa vụ và chiến lược tham gia cần được thực hiện trên cơ sở các yếu tố cụ thể của từng vụ việc, bao gồm loại hàng hóa, phạm vi hàng hóa bị điều tra, tư cách tham gia của doanh nghiệp, thời điểm tố tụng, dữ liệu về thiệt hại và các quyết định đã được Cơ quan điều tra hoặc cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Do đó, nhà sản xuất trong nước nên thực hiện rà soát pháp lý và hồ sơ chuyên biệt trước khi đưa ra quyết định nộp hồ sơ, tham gia hoặc thực hiện các quyền trong một vụ việc phòng vệ thương mại cụ thể.
5. Kết luận:
Khung pháp luật về phòng vệ thương mại của Việt Nam trao cho nhà sản xuất trong nước nhiều quyền để bảo vệ lợi ích hợp pháp trước tác động của hàng hóa nhập khẩu, bao gồm quyền nộp hồ sơ yêu cầu trong những trường hợp đáp ứng điều kiện, quyền tham gia điều tra, tiếp cận thông tin không mật, tham vấn, yêu cầu bảo mật, đưa ra ý kiến, khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định, cũng như một số quyền liên quan đến điều tra chống lẩn tránh, rà soát và miễn trừ.
Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này đòi hỏi nhà sản xuất trong nước phải có sự chuẩn bị về dữ liệu, chiến lược tham gia và nguồn lực chuyên môn. Một hồ sơ hoặc ý kiến có cơ sở không chỉ cần phản ánh thiệt hại thực tế mà còn phải làm rõ tính đại diện, diễn biến của ngành sản xuất trong nước, quan hệ nhân quả và sự phù hợp với các điều kiện pháp luật áp dụng cho từng biện pháp.
Vì vậy, nhà sản xuất trong nước nên tiếp cận phòng vệ thương mại như một quy trình quản trị rủi ro và bảo vệ thị trường dài hạn, thay vì chỉ là một biện pháp phản ứng khi thiệt hại đã xảy ra. Việc theo dõi sớm, lưu trữ dữ liệu có hệ thống, kiểm soát thời hạn, sử dụng quyền bảo mật và tham vấn một cách chủ động sẽ góp phần nâng cao khả năng bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp trong toàn bộ quá trình.
Bài viết này cung cấp thông tin khái quát trên cơ sở các quy định được đề cập tại Luật Quản lý ngoại thương, Nghị định số 86/2025/NĐ-CP và Thông tư số 26/2025/TT-BCT. Việc đánh giá quyền, nghĩa vụ và chiến lược tham gia trong từng vụ việc cần được thực hiện trên cơ sở hồ sơ, hàng hóa, thị trường và diễn biến thực tế có liên quan.
Việc áp dụng các quy định về phòng vệ thương mại, bao gồm các quy định chuyển tiếp, cần được xác định trên cơ sở thời điểm tiếp nhận hồ sơ, tình trạng tố tụng và đặc điểm của từng vụ việc. Vì vậy, các nhà sản xuất trong nước nên thực hiện rà soát pháp lý và đánh giá hồ sơ cụ thể trước khi quyết định thực hiện quyền theo quy định pháp luật.
Tuyên bố miễn trừ:
Bài viết này cung cấp thông tin khái quát trên cơ sở các quy định pháp luật được đề cập tại Luật Quản lý ngoại thương, Nghị định số 86/2025/NĐ-CP và Thông tư số 26/2025/TT-BCT. Nội dung và chiến lược thực hiện quyền của nhà sản xuất trong nước cần được đánh giá trên cơ sở hồ sơ, hàng hóa, thời điểm tố tụng và các tình tiết cụ thể của từng vụ việc. Bài viết không thay thế cho ý kiến tư vấn pháp lý của luật sư đối với một vụ việc cụ thể. Do đó, người viết bài và Công ty luật BFSC khuyến cáo người đọc không sử dụng thông tin trong bài viết như một ý kiến tư vấn để giải quyết một tình huống tương tự. Mọi tình huống thực tế, cần được thẩm định, đánh giá và tư vấn bởi các luật sư có kinh nghiệm một cách cẩn trọng trước khi hành động.
Quý khách hàng có nhu cầu tư vấn về thủ tục phục hồi, phá sản, vui lòng liên hệ với Văn phòng Công ty luật BFSC tại Hà Nội, địa chỉ: VP1040 Tầng 10 Tòa nhà Pacific Place, 83B Lý Thường Kiệt, phường Cửa Nam, thành phố Hà Nội. Điện thoại: (024) 7108 2688 | Email: [email protected]
Mọi trao đổi, đóng góp về bài viết, vui lòng liên hệ với tác giả bài viết – luật sư Phan Quang Chung, Văn phòng Công ty luật BFSC tại Hà Nội. Điện thoại: (024) 7108 2688 (Ext: 102) | Di động: 0906 199 119 |Email: [email protected]

