Cập nhật các quy định về sửa đổi hợp đồng xây dựng theo Luật Xây dựng số 143/2025/QH15 và Nghị định số 210/2026/NĐ-CP
Luật Xây dựng số 143/2025/QH15 (“Luật Xây dựng 2025“) được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2025 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, thay thế Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 (đã được sửa đổi, bổ sung). Để hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng 2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 210/2026/NĐ-CP ngày 18/7/2026 về hợp đồng xây dựng (“Nghị định 210“), có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.
Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung nhiều quy định cụ thể liên quan đến hợp đồng xây dựng, Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210 còn cho thấy sự thay đổi đáng kể trong tư duy lập pháp đối với việc thực hiện hợp đồng xây dựng. Nếu như các quy định trước đây chủ yếu tập trung vào quản lý hợp đồng (contract administration), thì các quy định mới đã từng bước chuyển sang cách tiếp cận quản trị hợp đồng (contract governance), nhấn mạnh việc kiểm soát rủi ro, phân định rõ trách nhiệm của các chủ thể, nâng cao tính chủ động trong quá trình thực hiện hợp đồng và tăng cường hiệu quả quản trị dự án.
Trong bối cảnh đó, các quy định về sửa đổi hợp đồng xây dựng không chỉ được hoàn thiện về mặt kỹ thuật lập pháp mà còn trở thành một công cụ quan trọng nhằm bảo đảm tính linh hoạt của hợp đồng, đồng thời kiểm soát việc điều chỉnh hợp đồng trong quá trình thực hiện dự án.
Bài viết này mở đầu cho chuỗi bài viết của BFSC Law LLC về hợp đồng xây dựng và hợp đồng dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (hợp đồng dự án PPP). Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung cập nhật các quy định chung về sửa đổi hợp đồng xây dựng theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210, đặc biệt là các quy định đối về sửa đổi hợp đồng xây dựng đối với các dự án đầu tư công, dự án PPP. Các nội dung chuyên sâu như điều chỉnh giá hợp đồng, điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng, điều chỉnh khối lượng công việc, gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng, cũng như các vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng dự án PPP sẽ được BFSC Law LLC tiếp tục phân tích trong các bài viết tiếp theo của chuỗi bài viết này.
(1) Khái niệm sửa đổi hợp đồng xây dựng
Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210 không đưa ra định nghĩa về “sửa đổi hợp đồng xây dựng”. Tuy nhiên, từ các quy định của Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210, có thể hiểu rằng sửa đổi hợp đồng xây dựng bao gồm:
- điều chỉnh hợp đồng xây dựng đã giao kết; và/hoặc
- bổ sung một hoặc một số nội dung của hợp đồng xây dựng đã giao kết.
Như vậy, theo quy định mới, sửa đổi hợp đồng xây dựng không chỉ bao gồm việc điều chỉnh các nội dung đã có trong hợp đồng mà còn bao gồm cả việc bổ sung các nội dung mới vào hợp đồng đã giao kết trong quá trình thực hiện.
(2) Các nội dung được sửa đổi trong hợp đồng xây dựng
Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210 tiếp tục ghi nhận nguyên tắc các bên được quyền sửa đổi hợp đồng xây dựng trong quá trình thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, việc sửa đổi chỉ được thực hiện đối với các nội dung mà pháp luật cho phép và phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Theo đó, các bên có thể thỏa thuận sửa đổi một hoặc nhiều nội dung của hợp đồng, bao gồm:
- phạm vi công việc;
- khối lượng công việc;
- giá hợp đồng;
- tiến độ thực hiện hợp đồng;
- thời gian thực hiện hợp đồng;
- quyền và nghĩa vụ của các bên;
- các nội dung khác theo thỏa thuận của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật.
Có thể thấy, phạm vi sửa đổi hợp đồng theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210 tương đối rộng, cho phép các bên điều chỉnh hầu hết các nội dung của hợp đồng trong quá trình thực hiện. Tuy nhiên, quyền sửa đổi này không phải là quyền tuyệt đối mà phải được thực hiện trên cơ sở đáp ứng các điều kiện, trình tự và thẩm quyền theo quy định của Luật Xây dựng 2025, Nghị định 210 và các quy định pháp luật có liên quan.
Đối với một số nội dung quan trọng như điều chỉnh giá hợp đồng, điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng, điều chỉnh khối lượng công việc, gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng hoặc thay đổi phạm vi công việc của các hợp đồng xây dựng đối với dự án đầu tư công, dự án PPP, pháp luật còn đặt ra các điều kiện riêng và cơ chế kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo đảm việc sửa đổi hợp đồng không làm thay đổi mục tiêu đầu tư, không vượt thẩm quyền quyết định đầu tư và không làm phát sinh việc lạm dụng sửa đổi hợp đồng trong quá trình thực hiện dự án. Những nội dung này sẽ được BFSC Law LLC phân tích chi tiết trong các bài viết tiếp theo của chuỗi bài viết.
(3) Các trường hợp được sửa đổi hợp đồng xây dựng
Điều 84.2 Luật Xây dựng 2025 quy định các bên trong hợp đồng được thỏa thuận sửa đổi hợp đồng xây dựng trong các trường hợp sau đây:
(i) Nhà nước thay đổi chính sách, pháp luật làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng xây dựng;
(ii) Thay đổi hoặc điều chỉnh yêu cầu về nội dung, phạm vi công việc, kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, tiến độ thực hiện, điều kiện tạm ứng hoặc điều kiện thanh toán đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng;
(iii) Xảy ra sự kiện bất khả kháng theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật Xây dựng 2025;
(iv) Hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật Xây dựng 2025;
(v) Các trường hợp khác do các bên thỏa thuận, phù hợp với quy định của Luật Xây dựng 2025 và các quy định pháp luật có liên quan.
Có thể thấy, Luật Xây dựng 2025 tiếp tục duy trì nguyên tắc tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên trong việc sửa đổi hợp đồng xây dựng. Tuy nhiên, việc sửa đổi hợp đồng chỉ được thực hiện trong các trường hợp luật cho phép hoặc theo thỏa thuận của các bên, với điều kiện nội dung thỏa thuận phù hợp với quy định của Luật Xây dựng và các quy định pháp luật có liên quan.
(4) Điều kiện tiên quyết để sửa đổi hợp đồng xây dựng
Các nhà thầu xây dựng cần đặc biệt lưu ý rằng, theo Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210, ngoại trừ trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản, để có thể áp dụng cơ chế sửa đổi hợp đồng, hợp đồng xây dựng phải có quy định cụ thể về:
- nội dung được sửa đổi;
- phạm vi sửa đổi hợp đồng;
- các trường hợp được sửa đổi hợp đồng; và
- trình tự, thủ tục sửa đổi hợp đồng.
Nói cách khác, đối với phần lớn các trường hợp sửa đổi hợp đồng, khả năng áp dụng cơ chế sửa đổi phụ thuộc trước hết vào chính quy định về sửa đổi hợp đông trong nội dung của hợp đồng mà các bên đã giao kết.
Một điểm đáng chú ý khác là Điều 95.7 Luật Xây dựng 2025 đã thiết lập quy định chuyển tiếp đối với các hợp đồng xây dựng được ký kết trước ngày 01/7/2026. Theo đó, khi xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản quy định tại Điều 13 Luật Xây dựng 2025, các bên được áp dụng các quy định của Luật Xây dựng 2025 để xử lý tình huống, bao gồm cả quyền yêu cầu sửa đổi hợp đồng theo Điều 84.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng quy định chuyển tiếp này không nên được hiểu là loại trừ quyền của các bên trong việc áp dụng các quy định khác của pháp luật dân sự đối với các hợp đồng xây dựng đã được ký kết trước ngày 01/7/2026 khi xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Nói cách khác, các bên vẫn có quyền áp dụng các quy định có liên quan của pháp luật dân sự để giải quyết tranh chấp hoặc xử lý hậu quả của sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản; riêng việc áp dụng các quy định của Luật Xây dựng 2025 chỉ được thực hiện trong phạm vi mà Điều 95.7 cho phép hoặc trong trường hợp các quy định của pháp luật dân sự có nội dung giống hoặc tương tự với quy định của Luật Xây dựng 2025.
(5) Các quy định về sửa đổi hợp đồng xây dựng đối với dự án đầu tư công và dự án PPP
Đối với hợp đồng xây dựng thuộc dự án đầu tư công và dự án PPP, ngoài các quy định chung về sửa đổi hợp đồng, Luật Xây dựng 2025 và Nghị định 210 còn có những quy định riêng về thẩm quyền quyết định sửa đổi hợp đồng, phạm vi sửa đổi, điều kiện sửa đổi và trình tự thực hiện.
5.1. Thẩm quyền sửa đổi hợp đồng của Chủ đầu tư
Theo khoản 3 Điều 84 Luật Xây dựng 2025 và khoản 3 Điều 23 Nghị định 210, Chủ đầu tư được quyết định sửa đổi hợp đồng xây dựng trong các trường hợp sau:
(i) Việc sửa đổi không làm vượt thời gian thực hiện dự án đã được phê duyệt hoặc phê duyệt điều chỉnh;
(ii) Việc sửa đổi có thể làm vượt giá gói thầu (bao gồm chi phí dự phòng) nhưng không làm vượt tổng mức đầu tư đã được phê duyệt hoặc phê duyệt điều chỉnh;
(iii) Trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản, Chủ đầu tư được xem xét, quyết định sửa đổi hợp đồng theo nguyên tắc:
- không làm thay đổi mục tiêu đầu tư;
- không làm thay đổi quy mô đầu tư;
- không vượt tổng mức đầu tư đã được phê duyệt hoặc phê duyệt điều chỉnh;
- bảo đảm hiệu quả đầu tư của dự án;
- tránh thất thoát, lãng phí.
(iv) Trong trường hợp bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản, việc sửa đổi hợp đồng có thể bao gồm:
- loại hợp đồng;
- hình thức giá hợp đồng;
- phương pháp điều chỉnh giá;
- nguồn dữ liệu để điều chỉnh giá hợp đồng;
- các nội dung khác có liên quan,
với điều kiện không vượt quá phạm vi thẩm quyền quy định tại các điểm (i) và (ii) nêu trên.
5.2. Những trường hợp việc sửa đổi hợp đồng phải được cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư chấp thuận hoặc phải thực hiện thủ tục lựa chọn nhà thầu
Ngoài phạm vi thẩm quyền sửa đổi hợp đồng của Chủ đầu tư quy định tại mục 5.1 bài viết này, việc sửa đổi hợp đồng phải được cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét, chấp thuận và trong một số trường hợp có thể phải thực hiện thủ tục lựa chọn nhà thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu, bao gồm:
- trường hợp phải điều chỉnh dự án đầu tư hoặc điều chỉnh tổng mức đầu tư;
- trường hợp phát sinh khối lượng hoặc công việc hợp lý chưa có đơn giá trong hợp đồng nhưng các bên không đạt được thỏa thuận về đơn giá, giá, khối lượng, thanh toán hoặc các nội dung khác liên quan để sửa đổi hợp đồng.
5.3. Điều chỉnh khối lượng, công việc trong hợp đồng xây dựng
Điều 23 Nghị định 210 quy định việc điều chỉnh khối lượng, công việc được áp dụng khác nhau tùy theo loại hợp đồng.
(a) Hợp đồng trọn gói
Đối với hợp đồng trọn gói, khối lượng hoặc công việc được điều chỉnh trong các trường hợp sau:
- phát sinh (tăng hoặc giảm) hợp lý khối lượng, công việc do điều chỉnh phạm vi công việc theo yêu cầu của bên giao thầu hoặc theo đề nghị của bên nhận thầu được bên giao thầu chấp thuận;
- xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo khoản 1 và khoản 2 Điều 13 Luật Xây dựng 2025.
(b) Hợp đồng theo đơn giá cố định và hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh
Đối với hợp đồng theo đơn giá cố định hoặc đơn giá điều chỉnh, khối lượng hoặc công việc được điều chỉnh trong các trường hợp:
- khối lượng nghiệm thu thực tế tăng hoặc giảm so với khối lượng ghi trong hợp đồng đối với công việc đã có đơn giá trong hợp đồng;
- phát sinh khối lượng hoặc công việc hợp lý chưa có đơn giá trong hợp đồng và các bên đã thống nhất việc bổ sung đơn giá để sửa đổi hợp đồng.
(c) Điều chỉnh giữa các thành viên liên danh
Đối với trường hợp điều chỉnh khối lượng hoặc công việc giữa các thành viên trong liên danh nhà thầu mà không làm thay đổi giá hợp đồng, bên giao thầu (Chủ đầu tư) được quyền quyết định trên cơ sở:
- có sự thống nhất của các thành viên liên danh;
- năng lực và kinh nghiệm của từng thành viên;
- bảo đảm an toàn, chất lượng, hiệu quả, thời gian và tiến độ thực hiện hợp đồng.
5.4. Điều chỉnh giá, đơn giá hợp đồng xây dựng
5.4.1. Nguyên tắc điều chỉnh đơn giá hợp đồng
Theo Nghị định 210, việc điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng xây dựng phải đáp ứng đồng thời các điều kiện cơ bản sau đây:
(i) Việc điều chỉnh đơn giá chỉ được áp dụng đối với hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh, hợp đồng theo thời gian, hợp đồng hỗn hợp và các loại hợp đồng xây dựng khác được pháp luật cho phép điều chỉnh đơn giá;
(ii) Đơn giá trong hợp đồng được điều chỉnh theo nội dung, phạm vi, phương pháp và căn cứ điều chỉnh đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng, phù hợp với quy định của pháp luật;
(iii) Việc điều chỉnh đơn giá chỉ áp dụng đối với khối lượng công việc mà tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên đã có thỏa thuận về việc được điều chỉnh đơn giá.
5.4.2. Các trường hợp điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng
(a) Khối lượng thực tế tăng hoặc giảm trên 20%
Trường hợp khối lượng công việc thực tế thực hiện tăng hoặc giảm lớn hơn 20% so với khối lượng tương ứng ghi trong hợp đồng và việc tăng hoặc giảm này đồng thời làm thay đổi:
- trên 0,25% giá hợp đồng; và
- trên 1% đơn giá của công việc,
thì các bên thống nhất xác định đơn giá mới theo nguyên tắc đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Đơn giá mới được áp dụng:
- đối với phần khối lượng thực tế vượt quá 120% khối lượng ghi trong hợp đồng; hoặc
- đối với toàn bộ khối lượng thực tế hoàn thành được nghiệm thu trong trường hợp khối lượng thực tế giảm trên 20%.
(b) Khối lượng thực tế tăng hoặc giảm không quá 20%
Trường hợp khối lượng công việc thực tế tăng hoặc giảm không quá 20% so với khối lượng ghi trong hợp đồng thì việc thanh toán được thực hiện theo đơn giá trong hợp đồng, bao gồm cả đơn giá đã được điều chỉnh theo thỏa thuận của hợp đồng (nếu có).
(c) Phát sinh công việc chưa có đơn giá
Đối với khối lượng hoặc công việc phát sinh chưa có đơn giá trong hợp đồng, các bên thống nhất xác định đơn giá mới theo nguyên tắc đã được thỏa thuận trong hợp đồng để làm cơ sở thanh toán. Trường hợp không thống nhất được đơn giá và các nội dung có liên quan để sửa đổi hợp đồng, có thể phát sinh thủ tục đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thực hiện công việc phát sinh.
5.4.3. Phương pháp điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng
Theo Nghị định 210, việc điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng được thực hiện theo một trong hai phương pháp sau:
- phương pháp bù trừ trực tiếp; hoặc
- phương pháp điều chỉnh bằng hệ số điều chỉnh giá (Pn) quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 210.
Trong cùng một hợp đồng xây dựng, các bên có thể kết hợp cả hai phương pháp nêu trên.
Trường hợp hệ số điều chỉnh giá (Pn) không áp dụng cho toàn bộ hợp đồng thì các bên phải thỏa thuận công thức xác định Pn đối với từng:
- hạng mục công trình;
- nhóm hoặc loại công tác; hoặc
- yếu tố chi phí cụ thể.
5.4.4. Nguồn thông tin về giá và chỉ số giá
Theo Nghị định 210, nguồn thông tin về giá, nguồn chỉ số giá và phương pháp điều chỉnh giá hợp đồng phải:
- phù hợp với nội dung và tính chất công việc;
- phù hợp với cơ cấu chi phí;
- phù hợp với loại giá hợp đồng; và
- được các bên thỏa thuận, quy định cụ thể trong hợp đồng.
Trường hợp cơ sở dữ liệu, thông tin về giá hoặc chỉ số giá xây dựng do Bộ Xây dựng hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố không phù hợp hoặc chưa được công bố thì bên giao thầu (Chủ đầu tư) được:
- tổ chức xác định giá hoặc chỉ số giá theo quy định của pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng; hoặc
- tham khảo nguồn giá hoặc chỉ số giá do Bộ Tài chính hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác công bố.
Đối với các khoản chi phí phát sinh ở nước ngoài, các bên có thể thỏa thuận sử dụng nguồn dữ liệu về giá hoặc chỉ số giá do cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền tại nơi phát sinh chi phí công bố.
5.4.5. Trường hợp không phải ký văn bản sửa đổi hợp đồng
Theo Nghị định 210, đối với việc điều chỉnh giá đã được các bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng, việc quản lý và thanh toán giá trị điều chỉnh không bắt buộc phải giao kết văn bản sửa đổi hợp đồng.
5.5. Điều chỉnh thời gian và tiến độ thực hiện hợp đồng
Theo Điều 25 Nghị định 210, trường hợp việc điều chỉnh thời gian hoặc tiến độ thực hiện hợp đồng làm vượt thời gian thực hiện dự án, Chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư xem xét, quyết định việc điều chỉnh thời gian thực hiện dự án trước khi các bên thỏa thuận điều chỉnh thời gian hoặc tiến độ thực hiện hợp đồng.
5.6. Thủ tục sửa đổi hợp đồng xây dựng
Theo khoản 4 Điều 22 Nghị định 210, việc sửa đổi hợp đồng xây dựng thuộc dự án đầu tư công và dự án PPP được thực hiện theo trình tự sau đây:
Bước 1. Đề nghị sửa đổi hợp đồng
Bên đề nghị sửa đổi hợp đồng gửi văn bản cho bên còn lại, kèm theo hồ sơ, tài liệu liên quan (nếu có). Văn bản đề nghị phải làm rõ:
- căn cứ đề nghị sửa đổi;
- cơ sở của việc sửa đổi;
- đánh giá tác động của việc sửa đổi đối với:
- thời gian thực hiện hợp đồng;
- tiến độ thực hiện hợp đồng;
- giá hợp đồng;
- chất lượng sản phẩm của hợp đồng;
- các nội dung cần thiết khác.
Bước 2. Phản hồi đề nghị sửa đổi
Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị sửa đổi hợp đồng, bên nhận đề nghị có trách nhiệm trả lời bằng văn bản.
Trường hợp không đồng ý với đề nghị sửa đổi, bên nhận đề nghị phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Bước 3. Thương thảo và ký kết văn bản sửa đổi hợp đồng
Các bên tiến hành thương thảo các nội dung cần sửa đổi và giao kết văn bản sửa đổi hợp đồng làm căn cứ thực hiện.
Trường hợp các bên không đạt được thỏa thuận về việc sửa đổi hợp đồng, bên giao thầu (Chủ đầu tư) có trách nhiệm tổ chức thực hiện các công việc này theo đúng quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định pháp luật có liên quan.
(6) Ý nghĩa thực tiễn đối với các bên tham gia hợp đồng xây dựng
Các quy định mới của Luật Xây dựng năm 2025 và Nghị định số 210/2026/NĐ-CP cho thấy việc sửa đổi hợp đồng xây dựng không còn được xem là một hoạt động xử lý tình huống đơn lẻ mà đã trở thành một nội dung cần được dự liệu ngay từ giai đoạn đàm phán, giao kết và quản trị hợp đồng.
Đối với chủ đầu tư, các quy định mới đặt ra yêu cầu phải xây dựng đầy đủ cơ chế sửa đổi hợp đồng ngay trong nội dung hợp đồng, đồng thời bảo đảm việc sửa đổi hợp đồng được thực hiện đúng thẩm quyền, đặc biệt đối với các dự án đầu tư công và dự án PPP. Trong nhiều trường hợp, việc sửa đổi hợp đồng có thể liên quan trực tiếp đến thời gian thực hiện dự án, tổng mức đầu tư hoặc thủ tục lựa chọn nhà thầu; do đó, việc xác định đúng thẩm quyền và trình tự thực hiện sẽ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình quản lý dự án.
Đối với nhà thầu, việc hợp đồng quy định đầy đủ về các trường hợp, phạm vi, trình tự và thủ tục sửa đổi hợp đồng sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để các bên xem xét việc điều chỉnh hợp đồng khi phát sinh các tình huống trong quá trình thực hiện, đặc biệt đối với các vấn đề liên quan đến khối lượng công việc, đơn giá, giá hợp đồng, tiến độ và thời gian thực hiện hợp đồng.
Có thể thấy rằng, cùng với việc mở rộng phạm vi sửa đổi hợp đồng, Luật Xây dựng năm 2025 và Nghị định số 210/2026/NĐ-CP cũng đồng thời thiết lập cơ chế kiểm soát chặt chẽ hơn đối với việc sửa đổi hợp đồng nhằm bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả đầu tư và hạn chế việc lạm dụng sửa đổi hợp đồng trong quá trình thực hiện dự án.
Chuỗi bài viết về hợp đồng xây dựng và hợp đồng dự án PPP
Bài viết này là bài viết đầu tiên trong chuỗi bài viết của BFSC Law LLC về hợp đồng xây dựng và hợp đồng dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (hợp đồng dự án PPP).
Trong các bài viết tiếp theo, BFSC Law LLC sẽ tiếp tục phân tích chuyên sâu các chủ đề, bao gồm:
- Các quy định về sửa đổi hợp đồng dự án PPP;
- Các quy định về sửa đổi hợp đồng tại các Mẫu hợp đồng xây dựng theo Quyết định số 1040/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng;
- Các quy định về sửa đổi hợp đồng dự án PPP theo các mẫu hợp đồng dự án PPP hiện hành;
- Điều chỉnh đơn giá, giá hợp đồng;
- Điều chỉnh tiến độ và thời gian thực hiện hợp đồng ;
- Điều chỉnh khối lượng công việc và phạm vi công việc trong hợp đồng ;
- Cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng, hợp đồng dự án PPP;
Chuỗi bài viết được xây dựng nhằm cập nhật các quy định pháp luật mới, đồng thời phân tích và so sánh với các mẫu hợp đồng xây dựng và thông lệ quốc tế, qua đó hỗ trợ các chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn và các chủ thể tham gia dự án trong quá trình quản trị hợp đồng xây dựng và hợp đồng dự án PPP.
Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm
Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin về các quy định pháp luật hiện hành. Nội dung bài viết không phải là ý kiến tư vấn pháp lý cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào.
Việc áp dụng các quy định pháp luật vào từng vụ việc phụ thuộc vào các tình tiết thực tế của từng hợp đồng và từng dự án. Quý độc giả nên tham khảo ý kiến của luật sư hoặc chuyên gia pháp lý trước khi đưa ra bất kỳ quyết định hoặc hành động nào dựa trên nội dung của bài viết.
Liên hệ
Quý khách hàng cần tư vấn liên quan đến:
- Hợp đồng xây dựng;
- Hợp đồng EPC, EC, EP, Turnkey;
- Hợp đồng dự án PPP;
- Hợp đồng FIDIC, NEC;
- Quản trị hợp đồng xây dựng;
- Giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng và dự án hạ tầng,
xin vui lòng liên hệ với BFSC Law LLC | Email: [email protected] | Điện thoại: (024) 7108 2688

