YÊU CẦU MUA LẠI PHẦN VỐN GÓP CỦA THÀNH VIÊN CÔNG TY – NHỮNG NỘI DUNG ĐIỀU LỆ CÔNG TY CẦN HOÀN THIỆN TRÊN CƠ SỞ QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU 51 LUẬT DOANH NGHIỆP
Là một trong những cơ chế bảo vệ quyền của các thành viên sở hữu vốn điều lệ với tỷ lệ thiểu số trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, quyền yêu cầu mua lại phần vốn góp được thiết kế để thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có thể yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình trong công ty và rời khỏi công ty mà không phải thực hiện thủ tục chuyển nhượng phần vốn góp theo cách thông thường trong trường hợp thành viên đó đã biểu quyết không tán thành đối với một nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên về một trong các vấn đề quy định tại Điều 5.1 Luật doanh nghiệp năm 2020 nhưng nghị quyết, quyết định vẫn được thông qua bởi (các) thành viên còn lại.
Trong bài viết này, luật sư Phan Quang Chung – luật sư điều hành Công ty luật TNHH BFSC sẽ phân tích các quy định của Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14, được sửa đổi bổ sung bởi Luật số 03/2022/QH15 và Luật số 76/2025/QH15 (sau đây gọi chung là “Luật doanh nghiệp năm 2020”) về yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và những nội dung Điều lệ công ty cần quy định rõ để đảm bảo việc thực thi quyền được hiệu quả.
1. Tổng quan
(1) Quyền yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên công ty được đưa vào lần đầu tiên tại Điều 31 Luật doanh nghiệp số 139/1999/QH10 ngày 12/06/1999, có hiệu lực từ ngày 01/01/2000 (“Luật doanh nghiệp năm 1999) với nội dung như sau:
“Điều 31. Mua lại phần vốn góp
- Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình, nếu thành viên đó bỏ phiếu chống hoặc phản đối bằng văn bản đối với quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề sau đây:
- a) Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, quyền và nhiệm vụ của Hội đồng thành viên;
- b) Tổ chức lại công ty;
- c) Các trường hợp khác quy định tại Điều lệ công ty.
Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thông qua quyết định về các vấn đề quy định tại các điểm a, b và c khoản này.
- Khi có yêu cầu của thành viên quy định tại khoản 1 Điều này, nếu không thoả thuận được về giá, thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên đó theo giá thị trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác”
(2) Quy định này tiếp tục được kế thừa và phát triển trong các Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11, ban hành ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006 (“Luật doanh nghiệp năm 2005”); Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, ban hành ngày 26/11/2014, có hiệu lực từ 01/07/2015 (“Luật doanh nghiệp năm 2014) và Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14, ban hành ngày 17/06/2020, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 (“Luật doanh nghiệp năm 2020”), cụ thể như sau:
(2.1) Luật doanh nghiệp năm 2005
“Điều 43. Mua lại phần vốn góp
- Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình, nếu thành viên đó bỏ phiếu không tán thành đối với quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề sau đây:
- a) Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;
- b) Tổ chức lại công ty;
- c) Các trường hợp khác quy định tại Điều lệ công ty.
Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thông qua quyết định vấn đề quy định tại các điểm a, b và c khoản này.
- Khi có yêu cầu của thành viên quy định tại khoản 1 Điều này, nếu không thoả thuận được về giá thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên đó theo giá thị trường hoặc giá được định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
-
Nếu công ty không mua lại phần vốn góp theo quy định tại khoản 2 Điều này thì thành viên đó có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người khác không phải là thành viên.”
(2.3) Luật doanh nghiệp năm 2014
“Điều 52. Mua lại phần vốn góp
- Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình, nếu thành viên đó đã bỏ phiếu không tán thành đối với nghị quyết của Hội đồng thành viên về vấn đề sau đây:
- a) Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;
- b) Tổ chức lại công ty;
- c) Các trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.
Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua nghị quyết quy định tại khoản này.
-
Khi có yêu cầu của thành viên quy định tại khoản 1 Điều này, nếu không thỏa thuận được về giá thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên đó theo giá thị trường hoặc giá được định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
-
Trường hợp công ty không mua lại phần vốn góp theo quy định tại khoản 2 Điều này thì thành viên đó có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người khác không phải là thành viên.”
(2.4) Luật doanh nghiệp năm 2020
“Điều 51. Mua lại phần vốn góp
- Thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình nếu thành viên đó đã bỏ phiếu không tán thành đối với nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên về vấn đề sau đây:
- a) Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;
- b) Tổ chức lại công ty;
- c) Trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.
- Yêu cầu mua lại phần vốn góp phải bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông qua nghị quyết, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của thành viên quy định tại khoản 1 Điều này thì công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên đó theo giá thị trường hoặc giá được xác định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty, trừ trường hợp hai bên thỏa thuận được về giá. Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
- Trường hợp công ty không thanh toán được phần vốn góp được yêu cầu mua lại theo quy định tại khoản 3 Điều này thì thành viên đó có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người không phải là thành viên công ty.”
(2) Quy định của Điều 51 Luật doanh nghiệp năm 2020 và khuyến nghị những nội dung mà Điều lệ công ty cần quy định bổ sung để đảm bảo khả năng thực thi quyền trên thực tiễn.
(2.1) Điều kiện để yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp
Theo Điều 51.1 Luật doanh nghiệp năm 2020 thì thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình nếu thành viên đó đã biểu quyết không tán thành đối với nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề sau đây:
(i) Sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền, nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên;
(ii) Tổ chức lại công ty;
(iii) Trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty.
Điều kiện tiên quyết để thành viên công ty được quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình là thành viên đó đã tham gia biểu quyết với phương án biểu quyết không tán thành đối với nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề được đề cập tại Điều 51.1 Luật doanh nghiệp 2020 nhưng nghị quyết, quyết định đó vẫn được thông qua bởi (các) thành viên còn lại của Hội đồng thành viên. Để được coi là đã tham gia biểu quyết đối với nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên, thành viên yêu cầu mua lại phần vốn góp cần đảm bảo đã đáp ứng các điều kiện được coi là tham dự và biểu quyết tại cuộc họp Hội đồng thành viên theo quy định tại Điều 59.4 hoặc đã gửi phiếu biểu quyết hợp lệ theo quy định tại Điều 61 Luật doanh nghiệp năm 2020.
Một khả năng hi hữu nhưng xét về lý thuyết thì vẫn có khả năng xảy ra là việc xác định thành viên biểu quyết tán thành hay không tán thành đối với nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên sẽ là một việc khó nếu một thành viên là tổ chức đã cử hai cá nhân đại diện phần vốn góp theo Điều 14 Luật doanh nghiệp năm 2020 nhưng hai đại diện này lại biểu quyết theo hướng trái ngược nhau. Để phòng ngừa, Điều lệ công ty cần có quy định để xác định trong trường hợp này.
(1.1.1) Về khái niệm “sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền, nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên” theo Điều 51.1(a).
Điều luật không giải thích và cũng không giới hạn việc sửa đổi, bổ sung quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên chỉ bao gồm việc sửa đổi, bổ sung các điều khoản về quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên trong Điều lệ. Do đó, mọi sửa đổi nội dung Điều lệ ở bất kỳ điều khoản nào và sự sửa đổi, bổ sung đó có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên trong mối quan hệ của các thành viên với nhau, với Hội đồng thành viên, với công ty hoặc với người quản lý, điều hành công ty hoặc với bên thứ ba được quy định trong Điều lệ đều có thể được hiểu là “sửa đổi bổ sung nội dung Điều lệ liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên” như quy định tại điều luật. Tuy nhiên, các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên có ảnh hưởng hoặc dẫn đến thay đổi “lợi ích” của thành viên như tăng giảm vốn điều lệ, bán tài sản, vay vốn, đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh, thay đổi ngành nghề kinh doanh hay ngành nghề kinh doanh chính không phải là việc sửa đổi, bổ sung nội dung Điều lệ liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên. Các sửa đổi bổ sung các nội dung khác liên quan đến thành viên, Hội đồng thành viên mà không dẫn đến thay đổi quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên trong các mối quan hệ nội bộ trong công ty, với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc bên thứ ba cũng không được coi là thuộc trường hợp này.
Cần lưu ý rằng, điều luật không đặt ra điều kiện về nội dung Điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên được thông qua đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng nào và những nội dung gì và mức độ gây ảnh hưởng và tác động bất lợi đối với thành viên ra sao.
Theo quan điểm của người viết bài, Điều lệ công ty cần có sự giải thích rõ ràng để có cơ sở xác định rõ trường hợp sửa đổi, bổ sung nội dung nào của Điều lệ sẽ được coi là sửa đổi, bổ sung nội dung Điều lệ có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên để phòng ngừa cách giải thích không thoả đáng trong khi xét yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên công ty.
(1.1.2) Về khái niệm “tổ chức lại công ty” theo Điều 51.1(b).
Điều luật không định nghĩa và giải thích việc tổ chức lại công ty gồm những trường hợp nào. Tuy nhiên, trên cơ sở xem xét các quy định tại chương IX của Luật doanh nghiệp năm 2020, có thể xác định được các trường hợp được coi là tổ chức lại công ty sẽ bao gồm: chia doanh nghiệp, tách doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thành công ty cổ phần.
Việc chuyển công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là kết quả của việc chuyển nhượng phần vốn góp của các thành viên công ty cho một thành viên của công ty hoặc một nhà đầu tư bên ngoài và không phải là nội dung thuộc thẩm quyền thảo luận, quyết định bởi Hội đồng thành viên nên mặc dù vẫn là một hình thức tổ chức lại doanh nghiệp nhưng sẽ không xảy ra khả năng để được điều chỉnh bởi quy định về mua lại phần vốn góp.
Việc thành lập thêm Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh hay mở rộng ngành nghề kinh doanh, thay đổi cơ cấu thành viên, vốn điều lệ hay cơ cấu tổ chức quản lý hay tái cấu trúc hoạt động công ty nhằm đạt được hiệu quả quản lý cao hơn mà không thuộc các trường hợp được liệt kê nêu trên không được coi là tổ chức lại doanh nghiệp.
Việc tạm ngừng kinh doanh, giải thể, phá sản cũng không được coi là tổ chức lại doanh nghiệp theo quy định này.
Để tránh các hiểu lầm và tranh chấp không đáng có, theo quan điểm của người viết bài, Điều lệ công ty nên mô tả và liệt kê rõ các trường hợp được coi là tổ chức lại công ty.
(1.1.3) Về “trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty” theo Điều 51.1(c)
Theo quan điểm của người viết bài, điều lệ công ty cũng nên quy định rõ hoặc đặt ra phương án xác định bổ sung những trường hợp nào thì thành viên biểu quyết không tán thành có quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp. Một khả năng khá hi hữu có thể xảy ra là nếu Điều lệ ban đầu cũng chỉ ghi “Trường hợp khác theo quy định tại Điều lệ công ty” và khi sửa đổi, bổ sung Điều lệ theo hướng quy định / giải thích rõ hoặc đặt ra công thức xác định những “trường hợp khác”, cũng có thể được coi là sửa đổi, bổ sung nội dung Điều lệ liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên như quy định tại Điều 51.1(a) Luật doanh nghiệp năm 2020.
(2.2) Thành viên nào được hưởng quyền yêu cầu mua lại phần vốn góp?
Thiết kế điều luật về quyền yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là một cơ chế bảo vệ các thành viên có tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ không đủ quyền phủ quyết các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên, mặc dù thành viên đã biểu quyết với phương án không tán thành đối với các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên về các vấn đề tại Điều 51.1 Luật doanh nghiệp năm 2020 nhưng nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên vẫn được thông qua bởi (các) thành viên còn lại.
Do đó, quyền này không áp dụng đối với thành viên có tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ đủ để thông qua nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên và cũng không áp dụng đối với thành viên có tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ đủ để phủ quyết các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên.
Quyền yêu cầu mua lại phần vốn góp chỉ dành cho các thành viên có tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ thấp hơn tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ đủ để phủ quyết các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên, tỷ lệ cụ thể phụ thuộc vào quy định của Điều lệ công ty về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ để thực hiện quyền phủ quyết và phụ thuộc vào trình tự, thủ tục tiến hành cuộc họp trực tiếp, lấy ý kiến bằng văn bản để thông qua các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên.
Xét trên phương diện lý thuyết, trên cơ sở các quy định từ các Điều từ 56 đến 62 Luật doanh nghiệp 2020, có thể thấy rằng nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên được coi là đủ điều kiện thông qua nếu:
(i) được các thành viên dự họp / thành viên bỏ phiếu bằng văn bản sở hữu từ 65% tổng số vốn góp của tất cả thành viên dự họp / thành viên được lấy ý kiến bằng văn bản sở hữu trở lên tán thành đối với nghị quyết, quyết định về việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty (bao gồm việc sửa đổi, bổ sung các nội dung của Điều lệ công ty về quyền, nghĩa vụ của thành viên, Hội đồng thành viên). Trong trường hợp này, tỷ lệ vốn điều lệ đủ để phủ quyết nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên là 35% tổng số vốn điều lệ và do đó, thành viên sở hữu ít hơn 35% tổng số vốn điều lệ của công ty có thể hưởng quyền yêu cầu mua lại phần vốn góp.
(ii) được các thành viên dự họp / thành viên bỏ phiếu bằng văn bản sở hữu từ 75% tổng số vốn góp của tất cả thành viên dự họp / thành viên được lấy ý kiến bằng văn bản sở hữu trở lên tán thành đối với việc (nếu Điều lệ công ty không quy định khác) đối với nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên về việc tổ chức lại công ty. Trong trường hợp này, tỷ lệ vốn điều lệ đủ để phủ quyết nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên là 25% tổng số vốn điều lệ và do đó, thành viên sở hữu ít hơn 25% tổng số vốn điều lệ của công ty có thể hưởng quyền yêu cầu mua lại phần vốn góp.
(2.3) Thành viên được hưởng quyền yêu cầu mua lại phần vốn góp có bị ràng buộc phải thực hiện quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp hay không?
Như đã đề cập tại mục (1.2) bài viết, yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là quyền của thành viên có tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ không đủ quyền phủ quyết nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên. Do đó, thành viên có quyền sử dụng quyền hoặc không sử dụng quyền, dựa trên cân nhắc và đánh giá của thành viên về các lợi ích kinh tế, thủ tục và thời gian cũng như khả năng thanh toán tiền mua lại phần vốn góp thực tế của công ty dựa trên thông tin về tình hình tài chính.
Tuy nhiên, nếu bỏ qua thời hạn thực hiện quyền này hoặc bỏ qua quyền này, thành viên gần như không thể thực hiện lại quyền yêu cầu mua lại phần vốn góp, xét trên phương diện quy định thường thấy tại các Điều lệ và xét trên phương diện trách nhiệm bảo toàn vốn, tài sản cho doanh nghiệp của những người quản lý doanh nghiệp. Bởi việc mua lại phần vốn điều lệ của thành viên sẽ dẫn tới thâm hụt tiền mặt trong công ty, giảm tổng tài sản của công ty trên báo cáo tài chính và giảm vốn điều lệ.
Mặt khác, thời gian để thực hiện thủ tục yêu cầu mua lại và thực hiện việc mua lại của công ty so với thời gian chào bán cho các thành viên còn lại theo thủ tục chuyển nhượng phần vốn góp theo quy định tại Điều 52 Luật doanh nghiệp năm 2020 là như nhau (30 ngày); Giá mua lại vẫn đảm bảo nguyên tắc giá thị trường và trong trường hợp việc thanh toán của công ty không thể thực hiện được, việc chuyển nhượng phần vốn góp sau đó sẽ là chuyển nhượng tự do, không bị ràng buộc bởi yêu cầu chào bán và điều kiện chào bán. Những lợi ích của cơ chế mua lại phần vốn góp của công ty theo quy định này đáng để thành viên cân nhắc thực hiện quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp.
(1.4) Tỷ lệ phần vốn góp được quyền yêu cầu công ty mua lại?
Như đã trình bày ở phần đầu bài viết, mục đích của điều luật là giúp thành viên rời công ty thông qua việc yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp mà không phải tiến hành chuyển nhượng phần vốn góp theo trình tự thông thường, thành viên được quyền (nhưng không bắt buộc) yêu cầu công ty mua lại toàn bộ phần vốn góp trong công ty. Một vấn đề khác như đã được phân tích ở phần đầu của mục (1) bài viết, có khả năng xảy ra là hai cá nhân đại diện cho thành viên là tổ chức biểu quyết trái ngược nhau về một nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên. Trong trường hợp này, nếu xác định thành viên là tổ chức đã biểu quyết không tán thành, thì cũng cần xác định thành viên đó sẽ phải yêu cầu mua lại toàn bộ hay một phần vốn góp mà họ đang sở hữu.
Điều luật không cấm hoặc hạn chế quyền yêu cầu công ty mua lại một phần trong tổng số phần vốn góp mà thành viên đang sở hữu tại công ty, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả bài viết, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác, công ty có quyền từ chối việc yêu cầu mua lại một phần vốn góp xét trên mục đích của quyền này.
Do đó, theo quan điểm của người viết bài, Điều lệ công ty nên quy định rõ về việc thành viên phải yêu cầu công ty mua lại toàn bộ phần vốn góp hay được quyền yêu cầu công ty mua lại một phần trong tổng số phần vốn góp mà thành viên đó sở hữu.
(1.5) Công ty có quyền từ chối yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên?
Điều 51.3 quy định công ty phải mua lại phần vốn góp của thành viên trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên quy định tại Điều 51.1. Theo nội dung điều luật, có nghĩa là công ty không được quyền từ chối yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên nếu (i) thành viên đó đủ điều kiện để thực hiện quyền yêu cầu mua lại phần vốn góp được quy định tại Điều 51.1 và (ii) đã gửi văn bản yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp trong thời hạn quy định tại Điều 51.2 Luật doanh nghiệp năm 2020. Việc công ty không đảm bảo khả năng thanh toán tiền mua lại phần vốn góp theo Điều 51.3 Luật doanh nghiệp năm 2020 là một vấn đề sẽ được xem xét trong quá trình thực hiện yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên, nhưng không phải là điều kiện để công ty từ chối việc mua lại phần vốn góp theo yêu cầu của thành viên.
Để tránh tranh chấp không đáng có, theo quan điểm của người viết bài, nếu Điều lệ không quy định rõ và không có căn cứ rõ ràng để từ chối, công ty không nên từ chối tiếp nhận và xem xét, đàm phán về yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên trừ khi thành viên đó không đáp ứng điều kiện thực hiện quyền và không thực hiện quyền trong thời hạn quy định. Các vấn đề liên quan đến số lượng, giá cả, điều kiện và thời hạn thanh toán, điều kiện khác liên quan đến yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên nên được công ty xem xét, thảo luận với thành viên sau quá trình tiếp nhận yêu cầu mua lại.
Điều lệ công ty cũng cần quy định rõ những trường hợp nào công ty được quyền từ chối yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên. Việc công ty từ chối mua lại phần vốn góp của thành viên, có thể dẫn tới việc thành viên phải tiếp tục ở lại công ty hoặc phải tuân thủ Điều 52 Luật doanh nghiệp năm 2020 để thực hiện thủ tục chuyển nhượng phần vốn góp. Do đó, trường hợp công ty từ chối tiếp nhận yêu cầu mua lại phần vốn góp hoặc từ chối mua lại phần vốn góp mà không có lý do thoả đáng, có khả năng sẽ dẫn đẩy bất đồng nội bộ lên một mức độ cao hơn một cách không cần thiết.
(1.6) Giá mua lại phần vốn góp
(1.6.1) Quyền yêu cầu giá mua lại của thành viên yêu cầu mua lại phần vốn góp
Điều 51.2 và Điều 51.3 Luật doanh nghiệp năm 2020 không cấm hoặc hạn chế thành viên đưa ra giá yêu cầu mua lại trong văn bản yêu cầu mua lại phần vốn góp được gửi đến công ty.
(1.6.2) Nghĩa vụ xác định giá mua lại phần vốn góp của công ty
Theo quy định tại Điều 51.3, giá mua lại phần vốn góp được quy định là theo giá thị trường (là giá giao dịch trên thị trường tại thời điểm liền kề trước đó hoặc giá do một tổ chức thẩm định giá xác định đối với phần vốn góp) hoặc giá được xác định theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty, trừ trường hợp hai bên thỏa thuận được về giá.
Công ty không có nghĩa vụ đồng ý với giá yêu cầu của thành viên nếu xét thấy mức giá đó quá cao so với nguyên tắc xác định giá thị trường. Người quản lý công ty có thể bị thành viên khác khởi kiện yêu cầu bồi thường nếu thoả thuận giá cao hơn giá thị trường, gây thiệt hại về tài sản cho công ty. Công ty cũng không được từ chối mua lại phần vốn góp vì lý do hai bên không thoả thuận được về giá, trong trường hợp hai bên không thoả thuận được về giá, công ty phải mua lại phần vốn góp theo giá thị trường. Theo Điều 4.14(b) Luật doanh nghiệp năm 2020, ) giá thị trường là giá giao dịch trên thị trường tại thời điểm liền kề trước đó hoặc giá do một tổ chức thẩm định giá xác định.
Do đó, nếu không có cơ sở xác định giá giao dịch trên thị trường tại thời điểm liền kề trước đó và/ hoặc không thống nhất được về giá, các bên phải chấp nhận phương án thẩm định giá và Điều lệ công ty nên làm rõ về thứ tự, thời hạn, phương thức xác định giá mua lại, chi phí và trách nhiệm liên quan đến việc thẩm định giá.
(1.7) Điều kiện thanh toán tiền mua lại phần vốn góp
Điều 51.3 và Điều 51.4 Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định công ty chỉ được thanh toán tiền mua lại phần vốn góp theo yêu cầu của thành viên nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác.
Điều luật không bắt buộc công ty phải thanh toán cho thành viên có yêu cầu mua lại nếu tại thời điểm thực hiện việc thanh toán, công ty xét thấy sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Đây là một điều kiện của giao dịch mua bán phần vốn góp giữa công ty và thành viên có yêu cầu. Do đó, trong trường hợp công ty cố tình tạo ra một nghĩa vụ tài sản hoặc khoản nợ để không đáp ứng điều kiện thanh toán theo quy định tại Điều 51.3 Luật doanh nghiệp năm 2020, thành viên công ty có quyền viện dẫn quy định của Bộ luật dân sự về giao dịch dân sự có điều kiện để buộc công ty thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Theo quan điểm của người viết bài, Điều lệ cần làm rõ và xử lý trường hợp công ty có khả năng thanh toán một phần tiền mua lại phần vốn góp thì việc mua lại có được tiến hành nữa hay không.
(1.8) Thủ tục yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp và thời hạn công ty mua lại phần vốn góp
Thành viên phải gửi yêu cầu mua lại phần vốn góp cho công ty trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nghị quyết, quyết định quy định tại Điều 51.1 Luật doanh nghiệp năm 2020 được Hội đồng thành viên thông qua. Cần lưu ý rằng, thời hạn này được tính từ ngày nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua mà không phải là ngày thành viên nhận được nghị quyết, quyết định. Do đó, cần để ý rằng, trong trường hợp nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên được thông qua dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản, ngày kiểm phiếu thường được coi là ngày thông qua nghị quyết, quyết định của hội đồng thành viên và ngày thành viên nhận được nghị quyết, quyết định sẽ luôn là sau ngày nghị quyết, quyết định được thông qua. Trong trường hợp này, thành viên có thể yêu cầu áp dụng quy định tại Bộ luật dân sự về “trở ngại khách quan” nếu thời hạn nhận được nghị quyết, quyết định đã vượt quá ngày thông qua nghị quyết, quyết định.
Công ty phải thực hiện việc mua lại phần vốn góp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên. Thời gian để thực hiện việc mua lại phần vốn góp được quy định trong điều luật mặc dù ngắn nhưng có ý nghĩa đảm bảo tính thời sự của nhu cầu bán lại phần vốn góp của thành viên. Thành viên và công ty có nghĩa vụ tối đa trong việc phối hợp để hoàn tất giao dịch mua lại phần vốn góp theo thời hạn quy định. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thẩm định giá mua lại phần vốn góp do không xác định được giá thị trường theo các nguyên tắc chung, thời hạn này có thể được kéo dài thêm một cách hợp lý.
Điều lệ công ty cũng nên làm rõ về thủ tục, thời hạn, các bước xử lý yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên để đảm bảo quá trình thực thi quyền không tạo ra những vướng mắc,tranh chấp không cần thiết.
(1.9) Các vấn đề khác liên quan đến quy định mua lại phần vốn góp theo yêu cầu của thành viên công ty
(1.9.1) Nếu công ty không mua lại phần vốn góp theo yêu cầu mua lại của thành viên, thành viên được quyền làm gì?
Phụ thuộc vào lý do từ chối mua lại của công ty, nếu xét thấy việc từ chối mua lại của công ty là không đúng với các quy định tại Điều 51 Luật doanh nghiệp / Điều lệ công ty, thành viên được quyền coi đây là một tranh chấp thương mại và tuỳ theo quy định tại Điều lệ công ty để khởi kiện tại Trọng tài hoặc Toà án.
Tuy nhiên, để tránh khả năng xảy ra vụ kiện, Điều lệ công ty cần có những quy định cụ thể để việc từ chối mua lại của công ty và hậu quả của việc từ chối này có thể không tạo nên các thủ tục phức tạp về việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên sau khi bị từ chối.
(1.9.2) Nếu công ty không thanh toán được tiền mua lại phần vốn góp theo thoả thuận mua lại, thành viên được quyền làm gì?
Như đã phân tích tại mục (1.7) bài viết, công ty có thể từ chối thanh toán hoặc không thực hiện việc thanh toán nếu sau khi thanh toán, công ty không đảm bảo khả năng trả nợ và các nghĩa vụ tài sản khác. Trong trường hợp công ty không thanh toán được tiền mua lại phần vốn góp theo quy định tại Điều 51.3, thì thành viên đó có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người không phải là thành viên công ty. Trong trường hợp này, thành viên đó không phải thực hiện thủ tục chào bán phần vốn góp cho các thành viên còn lại trong công ty theo tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ trước khi tiến hành chuyển nhượng phần vốn góp cho người không phải là thành viên của công ty và không chịu sự ràng buộc về việc phải chuyển nhượng cho người không phải là thành viên của công ty với cùng điều kiện chào bán cho các thành viên của công ty như quy định đối với việc chuyển nhượng phần vốn góp trong các trường hợp thông thường được quy định tại Điều 52 Luật doanh nghiệp năm 2020.
Tuy nhiên, như đã phân tích tại mục (1.7) bài viết, Điều lệ công ty cần có quy định về trường hợp công ty chỉ có khả năng thanh toán tiền mua một phần tổng số phần vốn góp của thành viên thì việc hoàn tất giao dịch mua lại phần vốn góp sẽ được giải quyết thế nào?
(1.9.3) Thủ tục ghi nhận và đăng ký giảm vốn điều lệ sau khi thanh toán tiền mua lại phần vốn góp
Sau khi thanh toán tiền mua lại phần vốn góp, công ty có nghĩa vụ thực hiện thủ tục đăng ký giảm vốn điều lệ và kế toán ghi nhận phần giảm giá trị tài sản công ty theo quy định của Luật kế toán. Phần vốn góp được mua lại của công ty không được coi là “vốn quỹ” như trường hợp “cổ phiếu quỹ” của công ty cổ phần.
(1.9.4) Xử lý trường hợp thành viên là tổ chức uỷ quyền cho nhiều cá nhân làm đại diện và các đại diện này biểu quyết khác nhau về nghị quyết, quyết định nêu tại Điều 51.1 Luật doanh nghiệp năm 2020.
Đây là một tình huống giả định, ít có khả năng xảy ra trên thực tế. Tuy nhiên, xét theo tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ ở mức 25% hoặc 35% như đã phân tích tại mục (1.2) bài viết và quy định tại Điều 14 Luật doanh nghiệp năm 2020 về số lượng đại diện được cử đối với thành viên là tổ chức, khả năng một thành viên là tổ chức sở hữu phần vốn góp thấp hơn tỷ lệ đủ điều kiện phủ quyết các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên được cử nhiều hơn một cá nhân đại diện là vẫn có thể xảy ra và mỗi cá nhân này không bị hạn chế phải cùng quan điểm về một vấn đề biểu quyết, nhất là trong trường hợp xảy ra bất đồng quan điểm giữa người đại diện theo uỷ quyền và thành viên là tổ chức uỷ quyền dẫn đến hai cá nhân do cùng một thành viên là tổ chức uỷ quyền đại diện phần vốn góp lại có hai quan điểm biểu quyết khác nhau về cùng một nội dung biểu quyết. Trong trường hợp này, việc xác định thành viên đó biểu quyết tán thành hay không tán thành để thực hiện quyền yêu cầu mua lại và số lượng phần vốn góp được quyền yêu cầu mua lại là bao nhiêu sẽ trở nên khó quyết định, nếu Điều lệ công ty không dự liệu và xử lý được tình huống này.
Do đó, theo quan điểm của người viết bài, Điều lệ công ty cần giải quyết nội dung liên quan đến việc xác định phương án biểu quyết của thành viên là tổ chức cũng như các vấn đề liên quan đến xử lý hậu quả nó trong trường hợp các cá nhân được thành viên là tổ chức cử làm đại diện phần vốn góp nhưng lại đưa ra các phương án biểu quyết không đồng nhất.
(3) Kết luận
Chế định về yêu cầu mua lại phần vốn góp của thành viên là một cơ chế công bằng, minh bạch để bảo vệ thành viên sở hữu tỷ lệ vốn điều lệ không đủ khả năng phủ quyết các nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên. Tuy nhiên, các quy định của Luật doanh nghiệp năm 2020 chưa quy định chi tiết hết các tình huống có khả năng xảy ra trong thực tế và Điều lệ công ty cần khắc phục được các chi tiết đó để đảm bảo khả năng giải quyết các tình huống phát sinh thực tế.
Tuyên bố miễn trừ
Nội dung bài viết thể hiện quan điểm riêng của người viết bài và không phải là quan điểm tư vấn của người viết bài hay Công ty luật TNHH BFSC đối với một tình huống tương tự xảy ra trên thực tế. Do đó, người viết bài lưu ý người đọc chỉ sử dụng nội dung phân tích trong bài viết để tham khảo. Mọi tình huống thực tế, vui lòng liên hệ với Công ty luật TNHH BFSC để được cung cấp dịch vụ tư vấn.
Mọi ý kiến đóng góp, trao đổi, vui long liên hệ với tác giả bài viết
Luật sư Phan Quang Chung
Email: [email protected] | Điện thoại: (024) 7108 2688 (máy lẻ: 102).
Quý khách có yêu cầu tư vấn, vui long liên hệ Văn phòng Công ty luật TNHH BFSC tại Hà Nội hoặc số hotline: 09061991119.

